TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨNH PHÚC THẾ KỶ XVII - XVIII

07/09/2011

TÌNH HÌNH KINH TẾ

Bên cạnh vị trí chính trị - ngoại giao, bản thân vùng đất Vĩnh Phúc thế kỉ XVII - XVIII cũng có những vị thế đặc biệt về kinh tế. Cũng giống như hầu khắp các địa phương trên phạm vi cả nước cùng thời điểm, kinh tế khu vực này cho đến trước năm 1945 chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp. Vào nửa cuối thế kỉ XVII và nửa đầu thế kỉ XVIII, nếu như phần lớn các bãi phù sa ven sông Hồng của Vĩnh Phúc trở thành vùng đất nông nghiệp trù phú và giàu có; thì vùng rừng núi của các huyện phía tây mang lại nhiều nguồn lâm thổ sản quý giá. Mặt khác, trong bối cảnh các trấn phía nam và đông nam của Thăng Long bị lôi kéo vào cuộc chiến với Đàng Trong, thì sự ổn định dù trong những khoảng thời gian không dài đã làm biến đổi nhanh chóng diện mạo kinh tế - xã hội của vùng đất này. Truyền thuyết dân gian của địa phương cho biết, bản thân chính quyền Lê - Trịnh cũng có ý định biến Sơn Tây - Vĩnh Phúc trở thành một bộ phận cơ sở kinh tế quan trọng của triều đình. Tương truyền, chỉ riêng huyện An Lãng đã có tới hơn 100 mẫu đồn điền do vợ Trịnh Tùng khai phá. Bên cạnh đó, nhà nước thời Lê cũng đã thi hành nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp và nông dân. Triều đình đã tiến hành đặt chức khuyến nông sứ trung ương và hệ thống nông quan các trấn. Đối với các vùng đất ven sông như các huyện thuộc trấn Sơn Tây, vấn đề đê điều trở thành nội dung mấu chốt. Ban đầu, nhà nước trực tiếp huy động dân chúng đi lao dịch và khám đạc đê điều; sau đó là trích tiền thuế điệu để thuê mướn nhân công.

Sự suy giảm vị thế quốc phòng và an ninh mở ra những điều kiện cho sự phát triển của vùng đất này gắn liền với các hoạt động kinh tế, thương mại như một hệ quả tự nhiên. Mặt khác, sự xuất hiện của các thuyền buôn phương Tây cũng góp phần vào việc đẩy mạnh quá trình trao đổi hàng hoá giữa vùng thượng du và vùng duyên hải. Với vị trí giáp vùng rừng núi phía bắc, trấn Sơn Tây trở thành cửa ngõ cung cấp các nguồn nguyên liệu lâm thổ sản có giá trị - món hàng hấp dẫn đối với các lái buôn trong và ngoài nước đến buôn bán Đàng Ngoài. Những mô tả của các thương nhân Việt Nam và phương Tây cho biết, trong thời kì này đã từng tồn tại một tuyến buôn bán liên vùng giữa các tỉnh thượng du - kinh đô Thăng Long - vùng hạ châu thổ sông Hồng.

Các tuyến buôn bán đường dài dù tiềm ẩn nhiều mạo hiểm song đem lại lãi suất rất lớn và nhất là sự lưu thông hàng hoá giữa các vùng miền. Trong khi nông nghiệp nằm bên bờ sông thường xuyên bị đe doạ bởi những biến cố tự nhiên thì thương nghiệp nhanh chóng trở thành một nguồn lợi quan trọng trong đời sống của cư dân địa phương. Phần lớn, việc kiểm soát các hoạt động kinh tế này rơi vào tay các thương nhân Trung Hoa. Những người Việt chủ yếu tham gia vào các hoạt động chuyên chở hoặc là tập kết hàng hoá cho các lái buôn song chỉ chừng ấy cũng đã đem lại một sự thay đổi đáng kể trong đời sống kinh tế của cộng đồng cư dân địa phương.

Các tư liệu văn bia thời Lê Vĩnh Phúc đã góp phần minh chứng cho sự tồn tại một tầng lớp thương nhân giàu có và những đổi thay kinh tế trên vùng đất này. Bia Ân lưu vạn đại bi minh tại chùa xã Hậu Dưỡng, huyện Mê Linh dựng vào năm Vĩnh Thọ 4 (1661) cho biết vợ chồng ông Nguyễn Tiến Tài và bà Nguyễn Thị Ngọc Lễ, người xã Hối Dương, tổng Thác Vọng, phủ Yên Lãng là nhân vật đệ nhất vùng Sơn Tây, Tam Đới, ông bà đã đóng góp công đức dựng hai toà hành lang chùa và ruộng để gửi giỗ cho cha mẹ. Trước sau ông bà đã đóng góp 22 nén bạc cho xã chi dùng.

Bia Vĩnh truyền hậu phật tương bi kí dựng tại chùa xã Đại Định, huyện Bạch Hạc tạo vào năm Cảnh Trị 2 (1664) kể lại câu chuyện về bà Lê Thị Khám lớn lên học nghề nữ công xã Định Ấp nhờ đi buôn bán mà trở nên giàu có nhưng goá bụa không ai chăm sóc. Vì vậy, bà cúng ruộng vào chùa để gửi giỗ. Số ruộng trị giá 160 gánh thóc và lại thêm 5 dật bạc. Bia Tu tạo hậu thần thạch bi tại chùa xã Mộ Chu, huyện Vĩnh Tường tạo vào năm Cảnh Trị 6 (1667) cho biết bà Nguyễn Thị Đam là người làng Mộ Chu là người đoan trang đã bỏ ra 6 dật bạc.

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế hàng hoá khu vực này lại chịu sự tác động không nhỏ từ các chính sách kinh tế của nhà nước, đặc biệt là hệ thống thuế khoá. Đáng kể nhất là loại thuế chuyên lợi đánh vào ba mặt hàng khai thác là: quế, muối, đồng. Đây là những mặt hàng chủ yếu mang lại giá trị kinh tế cao vùng thượng du nhưng những người buôn bán hoặc sản xuất các mặt hàng này phải nộp một phần sản phẩm cho nhà nước (từ 20% đến 50%) hoặc một khoản thuế tính bằng tiền.

Bên cạnh đó, chính quyền nhà Lê còn thiết lập một hệ thống trạm kiểm soát và đánh thuế tuần ti vào những người buôn chuyến đường sông để kiểm soát thuyền bè, hàng hoá ẩn lậu và thu thuế. Tuy nhiên, phần lớn các trạm tuần ti này đều đánh thuế quá mức quy định, đánh nhiều lần hay đòi hối lộ. Trước thực trạng đó, có lần chúa Trịnh đã bãi bỏ hẳn các sở tuần ti, nhưng sau đó lại cho tái lập lại, vin vào cớ “bọn hào phú và kẻ tiểu nhân phần nhiều đua nhau bỏ nghề gốc làm nghề ngọn... Mối tệ ấy cần phải uốn nắn, thể theo ý trọng bản ức mạt của người xưa…”.

Nhìn chung, trong một chừng mực nào đó, chính quyền Lê - Trịnh cũng đã có những cố gắng nhất định trong việc duy trì một sự đảm bảo cho sự phát triển kinh tế ổn định. Tuy nhiên phần lớn các chính sách này đều được thi hành hết sức chậm chạp, thiếu nhất quán. Sự thụ động của chính quyền nhà Lê - Trịnh đối với công thương nghiệp chẳng những không thúc đẩy cho quá trình phát triển kinh tế tư nhân và sự lưu thông hàng hoá mà nó đã gián tiếp đẩy nhanh quá trình tha hoá của hệ thống quan lại địa phương và các hoạt động buôn lậu diễn ra dưới nhiều hình thức.

Trong nông nghiệp, bất chấp những nỗ lực của nhà nước, trong nhiều năm lũ lụt vẫn trở thành thảm hoạ của nhân dân. Tháng 8, năm 1684 đê sông Nhị bị vỡ, các huyện phía tây bắc ruộng lúa bị thiệt hại rất nhiều. Tháng 7 năm 1713, mưa dầm không ngớt, nước sông tràn ngập, đê 13 huyện thuộc Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hoá đều vỡ, cuốn trôi hàng vạn nóc nhà, nhân dân đói khổ. Tháng 10 năm 1757, trấn Sơn Tây có 11 huyện dân bị đói lại phát bệnh dịch, dân cư chỉ còn độ một hai phần mười . . .

Các tài liệu bi kí cũng cho biết từ cuối thế kỉ XVII cho đến đầu thế kỉ XVIII, nhiều làng xã các huyện Bạch Hạc, An Lãng, Lập Thạch phải bán lại quyền hát cửa đình để lo việc công của làng xã. Nguyên nhân căn bản của tình trạng này là khi công việc đắp đê giao về cho địa phương tự thuê mướn nhân công, chức dịch cường hào các làng xã thường hay trục lợi bới xén tiền thuê, làm ăn dối trá, không đảm bảo chất lượng kỹ thuật. Sự yếu kém của hệ thống chính trị địa phương cùng nạn đói và tình trạng nông dân xiêu tán đã đẩy mâu thuẫn xã hội lên mức gay gắt. Sự manh nha của các cuộc khởi nghĩa ban đầu mới chỉ có tính chất phản ứng bộc phát nhưng sau đó đã nhanh chóng phát triển thành những cuộc đấu tranh của nông dân diễn ra với quy mô rộng lớn và quyết liệt.
Các tin đã đưa ngày: