Sign In

TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN CHIẾN TRANH NGÀY CÀNG ÁC LIỆT

07/09/2011
 

Chọn cỡ chữ A a  

 

 

  In trang

TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN CHIẾN TRANH NGÀY CÀNG ÁC LIỆT

Để cứu vãn sự sụp đổ hoàn toàn của nguỵ quân, nguỵ quyền, Mĩ đã chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” miền Nam, đồng thời tiến hành và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Tháng 3/1964, Mĩ đã thông qua kế hoạch OPLAN - 34A dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Ngày 5/8/1964, Mĩ dựng lên "sự kiện Vịnh Bắc bộ", lấy cớ cho máy bay ném bom một số nơi miền Bắc như cửa sông Gianh, Vinh, Bến Thuỷ …Ngày 7/2/1965, lấy cớ trả đũa cuộc tiến công của quân giải phóng vào Plâycu, Mĩ đã ném bom ồ ạt miền Bắc, chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta.

Tại Vĩnh Phúc, ngày 7/11/1965, máy bay Mĩ bắt đầu bắn phá trạm Rađa Tam Đảo. Sau đó, chúng ráo riết tiến hành các hoạt động trinh sát mục tiêu. Như vậy, ngày 7/1/1965 là ngày chính thức mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ đối với Vĩnh Phúc.

Mục đích của đế quốc Mĩ là nhằm triệt phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng, phá vỡ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm lung lay quyết tâm chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta cả hai miền Bắc - Nam. Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc chủ trương Vĩnh Phúc phải tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bất cứ hoàn cảnh nào, vừa sản xuất vừa chiến đấu, đồng thời hết lòng hết sức chi viện cho miền Nam. Nhận thấy rõ tầm quan trọng của yếu tố hậu phương trong chiến tranh ngày 1/4/1966, Nghị quyết của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã nhấn mạnh: Việc Xây dựng hậu phương về các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá... góp phần tích cực vào công cuộc chống Mĩ bảo vệ miền Bắc, cùng nhân dân cả nước đánh bại giặc Mĩ xâm lược, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc.

Hoà chung khí thế quyết tâm đánh thắng đế quốc Mĩ của quân dân miền Bắc, quân dân Vĩnh Phúc đã dấy lên phong trào thi đua chống Mĩ cứu nước sôi nổi. Noi gương anh hùng Nguyễn Viết Xuân - Người con ưu tú của quê hương Vĩnh Tường, trong quân đội nêu cao khẩu hiệu "Nhằm thẳng quân thù, bắn!". Giai cấp công nhân nêu quyết tâm “tay súng, tay búa", nông dân tập thể nêu quyết tâm "Tay cày, tay súng". Thanh niên có phong trào ba sẵn sàng (sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào và làm bất cứ việc gì Tổ quốc cần). Phụ nữ có phong trào ba đảm đang (đảm đang sản xuất, công tác, đảm đang công việc gia đình, đảm đang phục vụ chiến đấu và chiến đấu).

Với quyết tâm như vậy, trong bối cảnh chiến tranh ác liệt, sản xuất mọi mặt vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Trong nông nghiệp, từ năm 1961 đến năm 1965, mỗi năm Vĩnh Phúc đào đắp hàng vạn mét khối đất đá để xây dựng 3.000 hồ, đập, giếng, kênh, mương...Toàn tỉnh đã vượt mức kế hoạch làm thuỷ lợi 44,5%. Sản xuất năm 1965 đạt nhiều kết quả đáng tự hào. Nhưng sang năm 1966, tình hình sản xuất nông nghiệp có chiều hướng giảm dần do nhiều nguyên nhân (thời tiết khắc nghiệt, do chiến tranh, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp thiếu thốn, thiếu nhân lực …) nhưng quan trọng nhất là vấn đề quản lí trong hợp tác xã, đặc biệt là hiện tượng làm việc không hiệu quả của các hợp tác xã làm ăn tập thể. Trước tình hình đó, Vĩnh Phúc tiến hành triển khai thí điểm hình thức "khoán hộ" với nhiều hình thức khác nhau trong cả trồng trọt và chăn nuôi.

Về trồng trọt thực hiện bốn hình thức khoán: khoán cho hộ làm một hoặc nhiều khâu sản xuất trong thời gian dài; khoán cho hộ các khâu dài ngày hoặc cả vụ; khoán sản lượng cho hộ, nhóm và khoán trắng ruộng đất cho hộ. Mỗi hình thức khoán trên được thực hiện từng địa phương khác nhau. Cùng với việc khoán theo bốn hình thức trên, một số lớn tư liệu sản xuất cũ được bán cho xã viên.

Trong chăn nuôi, hình thức khoán cũng được áp dụng cho các hộ. Do có lợi ích thiết thực nên việc khoán chăn nuôi (chủ yếu là chăn nuôi lợn) phát triển khá rầm rộ hầu khắp các huyện trong tỉnh, điển hình như: hợp tác xã Tân Lập (Lập Thạch), Văn Quán (Yên Lãng), Yên Lỗ (Bình Xuyên)…Ngoài ra, các hợp tác xã còn tiến hành giao khoán chăn nuôi cả gia cầm như gà, vịt...

Trên thực tế, khoán hộ đã phát huy được rất nhiều ưu điểm (tận dụng lao động trong mỗi hộ, khắc phục tình trạng phóng điểm của các hợp tác xã…). Mặc dù chiến tranh ác liệt, nhưng có khoán hộ nên sản xuất nông nghiệp Vĩnh Phúc năm 1967 vẫn thu được thắng lợi đáng kể. Những điển hình năng suất cao xuất hiện ngày càng nhiều. Năm 1965 là năm được mùa mới có 15 xã, 48 hợp tác xã và một huyện đạt năng suất trên 5 tấn thóc/ha cả năm thì sang năm 1967, tuy chiến tranh ác liệt, hạn hán kéo dài, toàn tỉnh lại có 2 huyện, 46 xã và 160 hợp tác xã (bằng hơn 70% số hợp tác xã) đạt năng suất bình quân từ 5 tấn đến trên 7 tấn/ha. Trong đó có 7 xã, 23 hợp tác xã đạt trên 6 tấn, 4 hợp tác xã đạt trên 7 tấn/ha.

Chăn nuôi cũng có những bước tiến khá vững chắc, nhất là đàn lợn tăng nhanh kỉ lục. Tổng đàn lợn có 307.000 con, tăng 20% so với năm 1966 và 38% so với năm 1965. Thắng lợi đó đã tạo nền tảng cho nông nghiệp phát triển; đồng thời thể hiện sự quyết tâm của quân dân Vĩnh Phúc đưa nông nghiệp đi lên toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc.

Thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp cũng có ý nghĩa rất lớn đối với việc đảm bảo đời sống nhân dân và hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước. Trong suốt thời gian 1965 - 1968, Vĩnh Phúc đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ lương thực, thực phẩm đạt hàng vạn tấn được Chính phủ khen ngợi.

Về công nghiệp, do sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên công nghiệp Vĩnh Phúc rất nhỏ bé. Đến năm 1967, do nhu cầu nhiều mặt tăng, các xí nghiệp cơ khí cấp huyện và một số cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm được xây dựng. Cuối năm 1967, ngành cơ khí Vĩnh Phúc có hệ thống từ tỉnh đến huyện và 200 xưởng cơ khí nhỏ các xã. Tổng sản lượng công nghiệp toàn tỉnh năm 1966 đạt 82% kế hoạch, năm 1967 đạt 95% kế hoạch. Tỉ trọng công nghiệp quốc doanh chiếm 51% . Tốc độ tăng của công nghiệp quốc doanh đạt 14% so với những năm trước. Ngành công nghiệp địa phương đã phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp. Năm 1967, ngành sản xuất được 72 máy tuốt lúa, 40 máy nghiền thức ăn gia súc, 52 máy thái rau, 5.000 cào cỏ cải tiến, 2.750 xe cải tiến và 2.355 bộ phụ tùng xe cải tiến. Sự phát triển tuy không hoàn toàn đóng vai trò quyết định đối với toàn bộ nền kinh tế của tỉnh nhưng có tác dụng rất lớn, giúp thay thế một phần sức lao động con người bằng máy móc, củng cố hơn truyền thống đoàn kết công nông.

Ngành thương nghiệp cũng có nhiều cải tiến trong khâu phân phối phục vụ sản xuất, chiến đấu và phục vụ đời sống nhân dân. Ngoài hệ thống mậu dịch quốc doanh, hệ thống hợp tác xã mua bán được kiện toàn và tăng cường hơn trước cả về vốn, hàng hoá và các điểm phục vụ, tất cả các xã đều có cửa hàng phục vụ nhân dân. Hợp tác xã mua bán có hệ thống dọc từ tỉnh đến cơ sở đã cùng với thương nghiệp quốc doanh phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trong điều kiện chiến tranh, hoạt động tài chính - ngân hàng vẫn đảm bảo đúng chế độ, nguyên tắc quản lí mà Nhà nước quy đinh. Mặc dù có nhiều nhu cầu đột xuất do yêu cầu quốc phòng, sản xuất và đời sống nhân dân, nhưng ngành tài chính - ngân hàng của tỉnh đảm bảo hoạt động đúng chức năng, phục vụ kịp thời, an toàn, tuyệt đối, giữ vững truyền thống của ngành.

Lĩnh vực văn hoá, xã hội vẫn tiếp tục phát triển trong chiến tranh. Trong giáo dục, số học sinh phổ thông năm học 1966 - 1967 tăng hơn năm học trước 14% (bằng 22% dân số). Mặc dù trường lớp phải sơ tán, điều kiện giảng dạy và học tập khó khăn hơn, nhưng các nhà trường vẫn duy trì phong trào thi đua Hai tốt đạt chất lượng ngày càng cao. Do đó, kì thi tốt nghiệp năm học 1966 - 1967 học sinh toàn tỉnh đỗ đạt tỉ lệ chung 95,5%. Trong đó, cấp I đạt 96,8%; cấp II đạt 93,7%; cấp III đạt 96%. Trong cả ba cấp có 99 trường có số học sinh đỗ tốt nghiệp 100%. Phong trào bổ túc văn hoá phát triển khá mạnh. Toàn tỉnh có 152 xã mở trường cho xã viên hợp tác xã, 123 xã có trường lớp riêng cho thanh niên, 120 xã có "Trường ba đảm đang" cho phụ nữ, 68 xã có trường cho cán bộ đang tại chức. Công tác đào tạo cán bộ của tỉnh cũng đảm bảo cơ bản yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Về y tế, theo yêu cầu thời chiến, cuối năm 1966, công tác sơ tán các bệnh viện tỉnh đã hoàn thành, đồng thời tất cả các bệnh xá huyện chuyển thành bệnh viện, phương tiện, cán bộ được đầu tư cho trạm xá xã... nhằm nâng cao năng lực phục vụ của ngành trong công tác phục vụ chiến đấu và sản xuất; 100% số xã trong tỉnh có trạm xá với những trang thiết bị cần thiết nhất (90% trạm xá có 1 y sĩ và 30% số trạm xá có 2 y sĩ). Ngoài ra, Vĩnh Phúc còn xây dựng 19 trạm cấp cứu phòng không các khu vực trọng điểm.

Trong năm 1967, trước tình hình chiến sự ngày càng ác liệt, tỉnh đã cố gắng tăng cường trang bị, mở tương đối đầy đủ các khoa, đảm bảo số y, bác sĩ và nhân viên phục vụ để bệnh viện cấp tỉnh có thể đảm đương được nhiệm vụ của tuyến 4, bệnh viện huyện đảm nhận tuyến 3 và 116 trạm xá xã đảm nhận tuyến 2. Mặc dù địch đánh phá ác liệt nhưng với những nỗ lực của ngành, công tác y tế vẫn đảm bảo khám chữa bệnh kịp thời cho nhân dân, khắc phục kịp thời hậu quả chiến tranh, không để xảy ra những thiếu sót đáng tiếc.

Về văn hoá, với phương châm phục vụ sát đồng ruộng và chiến trường", năm 1966, ngành văn hoá đã tổ chức trên 3.600 buổi chiếu phim, văn công phục vụ cho trên 4 triệu lượt người xem (tăng 23 - 40% so với năm 1965). Bám sát phương châm thiết thực đó hoạt động văn hoá ngay từ đầu năm 1966 đã có sự chuyển hướng, đáng chú ý là phong trào văn hoá, văn nghệ nghiệp dư. Trong năm 1966, hoạt động văn hoá nghiệp dư tổ chức được trên 4.000 buổi diễn phục vụ trên 3 triệu lượt người xem.

Tháng 1/1957, Tỉnh đoàn Vĩnh Phúc phối hợp với Ty Văn hoá tổ chức hội diễn văn nghệ với chủ đề "Cất cao lời ca chống Mĩ cứu nước" trong toàn lực lượng vũ trang địa phương. Qua hội diễn đã chọn được 35 diễn viên, 7 tiết mục có chất lượng tốt, có 3 tiết mục được giải thưởng là "Đạo Trù đổi mới", "Chống bọ dầy" và "Vĩnh Phúc lập công đầu”.

Vĩnh Phúc đã phát hành trên 3 triệu đầu sách trong hai năm 1966 - 1967, trong đó 33% là sách khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất (chủ yếu là kĩ thuật nông nghiệp và 5% là sách phục vụ chiến đấu).

Hoạt động thông tin chủ yếu cơ sở với trên 6.000 loa đài (bình quân 5 hộ 1 loa hoặc 1 đài) thường xuyên cung cấp thông tin cho nhân dân. Đáng chú ý là trong chiến tranh, các hoạt động thư viện, câu lạc bộ ngày một tăng. Năm 1967 so với năm 1966 thư viện tăng 20% và câu lạc bộ tăng 133%; đồng thời trong hai năm cũng triển khai tốt cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá. Do vậy, đến cuối năm 1967, toàn tỉnh đã cấp giấy chứng nhận cho trên 300 gia đình văn hoá.

Trong hai năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mĩ, mặc dù mức ác liệt ngày càng tăng, khó khăn càng lớn, nhất là đối với một tỉnh nông nghiệp, nhưng với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do", nhân dân Vĩnh Phúc đã vượt lên mọi khó khăn để đưa kinh tế phát triển, đáp ứng được yêu cầu vừa chiến đấu tại chỗ vừa ổn định đời sống, mặt khác góp phần cùng miền Bắc chi viện cho miền Nam và đặt tiền đề lâu dài cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này.

   
   
   
Số bản ghi trên trang  
1-3 / 3 bản ghi

Số lượt truy cập: 89.612.742

EMC Đã kết nối EMC