VĨNH PHÚC DƯỚI THỜI BẮC THUỘC
Nền
thống trị của nhà Triệu trên đất Âu Lạc thiết lập từ năm 179 TCN khi
Triệu Đà đánh bại An Dương Vương cho đến khi nhà Triệu bị nhà Hán tiêu
diệt vào năm 111 TCN, kéo dài 68 năm, qua 5 đời vua. Ngay khi thôn tính
xong Âu Lạc, Triệu Đà cho sát nhập toàn bộ đất đai Âu Lạc vào lãnh thổ
Nam Việt và chia làm hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, đặt dưới
quyền thống trị của triều đình Nam Việt ở Phiên Ngung (Quảng Đông, Trung
Quốc) Quận Giao Chỉ tương đương với khu vực Bắc bộ ngày nay. Quận Cửu
Chân nằm ở phía nam quận Giao Chỉ, trải dài từ đèo Tam Điệp (bắc Thanh
Hoá) đến dãy Hoành Sơn (nam Hà Tĩnh). Vùng đất Vĩnh Phúc khi ấy thuộc
quận Giao Chỉ.
Dưới
ách thống trị của nhà Triệu, xã hội Âu Lạc cũ bắt đầu có những biến
đổi. Tuy nhiên, chính sách cai trị của nhà Triệu không được thực hiện
trực tiếp mà chỉ ràng buộc lỏng lẻo, nên về cơ bản cơ cấu tổ chức cổ
truyền của người Việt không bị giải thể mà vẫn tiếp tục phát huy sức
sống tiềm tàng của nó. Xã hội nhìn chung khá ổn định, không có những
biến động chính trị - quân sự đáng kể nào dưới thời thuộc Triệu.
Năm
202 TCN, Lưu Bang xưng đế (Hán Cao Tổ), lập ra nhà Hán. Tiếp tục những
chính sách đối nội và đối ngoại của nhà Tần trước đây, các Hoàng đế Hán
đẩy mạnh thực hiện "mộng bành trướng phương Nam", tiến tới "bình thiên
hạ". Bằng các thủ đoạn phủ dụ và trấn áp quân sự, nhà Hán từng bước thôn
tính Nam Việt. Năm 111 TCN, nhà Hán phát hơn 10 vạn binh tiến vào đất
Nam Việt, triều đình Nam Việt nhanh chóng đầu hàng.
Lúc
ấy, chính quyền Nam Việt ở Giao Chỉ và Cửu Chân không còn chỗ dựa, lo
sợ, hoang mang cực độ. Bọn sứ giả, quan lại nhà Triệu đóng trên đất Âu
Lạc đã và quỳ gối đầu hàng, dâng toàn bộ đất đai cho Lộ Bác Đức. Đất Âu
Lạc chuyển từ ách thống trị của nhà Triệu sang nhà Hán.
Chiếm
xong Nam Việt, nhà Hán chia vùng đất mới làm 9 quận là Đam Nhĩ, Chu
Nhai (thuộc đảo Hải Nam, Trung Quốc), Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương
Ngô (thuộc hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Trung Quốc), Giao Chỉ (tương
đương khu vực Bắc Bộ), Cửu Chân (tương đương vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh)
và Nhật Nam (từ Quảng Bình đến Quảng Nam). Năm 106 TCN, nhà Hán đặt châu
Giao Chỉ thống suất 7 quận ở lục địa (trừ hai quận hải đảo là Châu Nhai
và Đam Nhĩ nay thuộc đảo Hải Nam, Trung Quốc) và đặt trị sở ở quận Giao Chỉ.
Trong châu Giao Chỉ, quận Giao Chỉ là lớn nhất và quan trọng nhất. Quận trị Giao Chỉ có thời điểm được đặt tại Mê Linh. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép:
“Thời Tây Hán, trị sở của Thái thú đặt tại Long Uyên, tức là Long Biên,
thời Đông Hán đặt tại Mê Linh tức là Yên Lãng”. Đất Yên Lãng xưa nay là
huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến thế kỉ XIX, các tác Giả sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng theo Toàn thư mà
cho rằng: “Thời Đông Hán, trị sở ở Mi Linh (tức Mê Linh)”. Tuy nhiên,
trong lời cẩn án chính cáo sử thần triều Nguyễn đã tỏ ý nghi ngờ: “Đời
Đông Hán chưa hề đóng lị sở ở Mi Linh. Việc này e rằng sử cũ chép lầm”.
Tác giả Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời căn cứ vào đoạn ghi chép trong Thuỷ Kinh chú: “Huyện Mê Linh, năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 TCN) đời Hán vũ
đế mở Đô uý trị ở đó” cho rằng nhà Hán khi mới chinh phục nước ta đã
đặt quận trị Giao Chỉ ở Mê Linh. Tác giả lập luận rằng Mê Linh nguyên
trước là một bộ lạc thời Hùng Vương. Đến khi An Dương Vương dựng nước Âu
Lạc đã giáng con cháu họ Hùng xuống hàng Lạc tướng và cho họ tiếp tục
coi giữ bộ lạc. Sau khi nhà Hán chiếm hai quận của nhà Triệu trên đất Âu
Lạc cũ đã để thành Tây Vu là trị sở quận Giao Chỉ thời Triệu cho con
cháu An Dương Vương giữ với tư cách là Tây Vu Vương, để đặt quận trị mới
ở Mê Linh là một địa điểm trọng yếu khác. Với cách bố trí như vậy nhà
Hán vừa có thể khống chế được đất Mê Linh của con cháu Lạc vương xưa,
lại vừa có thể kiểm soát được Tây Vu là đất cũ của dòng dõi An Dương
Vương. Mê Linh khi ấy là một địa điểm quan trọng, đầu mối của nhiều
đường thuỷ đạo, có địa thế tốt để làm quận trị Giao Chỉ. Tuy nhiên, đến
cuối thời Tây Hán, thấy Mê Linh ở thiên về góc Tây Bắc của quận, sự
khống chế đối với các huyện miền Đông Nam gặp nhiều khó khăn, nhà Hán
bèn dời quận trị đến nơi trung tâm của quận. Từ đó, Liên Lâu rồi Long
Biên trở thành quận trị của Gian Chỉ. Mặc dù dời quận trị đến Liên Lâu
nhưng nhà Hán vẫn đặt Đô uý trị tại Mê Linh để trấn áp miền Tây Bắc -
nơi thường trực những mối lo chính trị. (Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, tr 64-65).
Nếu đoạn ghi chép trên của Thuỷ kinh chú là
đáng tin cậy và những lập luận của tác giả Đào Duy Anh là có căn cứ thì
Mê Linh chính là nơi đầu tiên nhà Hán đặt làm quận trị Giao Chỉ. Cả Đại Việt sử kí toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều
có lí khi cho rằng Mê Linh từng là quận trị Giao Chỉ. Có điều, tác giả
các sách trên đều nhầm lẫn về thời điểm ra đời của nó. Đúng ra, Mê Linh
là trị sở quận Giao Chỉ ngay đầu thời Hán trước khi chuyển về Liên Lâu
và Long Biên cuối thời Tây Hán sang Đông Hán.
Không những là quận trị Giao Chỉ, Mê Linh có thể còn là trị sở đầu tiên của châu Giao Chỉ. Sách Giao Châu ngoại vực kí dẫn trong Thuỷ kinh chú chép
rằng khi Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức đến Hợp Phố, hai điển sứ của nhà
Triệu ở Giao Chỉ và Cửu Chân đã quy hàng, được phong làm Thái thú và
tiếp tục cai trị trên đất Âu Lạc cũ. Sách ấy cho biết thêm quận trị và
châu trị. Giao Chỉ đầu thời Hán ở cùng một địa điểm. Căn cứ đoạn dẫn
trên, tác giả Dào Duy Anh khẳng định: "Mê Linh là quận trị đầu tiên của
Giao Chỉ, mà trị sở của Giao Chỉ bộ (châu Giao Chỉ) nhà Hán cùng đặt
luôn ở đó”.
Về
vị trí huyện Mê Linh thời Hán, đến nay nhiều ý kiến thống nhất cho rằng
nó phần lớn thuộc đất Vĩnh Phúc. Căn cứ đoạn ghi chép trong Thuỷ kinh chú về
dòng chảy của sông Diệp Du, tác giả Đào Duy Anh cho rằng huyện Mê Linh
đời Hán nằm hai bên tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng, bao gồm phía tây và
bắc tỉnh Vĩnh Phúc (mà địa điểm quan trọng là thành Mê Linh, nay thuộc
thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) và phía tây
bắc tỉnh Hà Tây cùng với miền Yên Bái (đến địa phương Đào Thịnh) ngày
nay.
Phần đất phía đông bắc Vĩnh Phúc khi ấy thuộc huyện Vọng Hải. Lịch Đạo Nguyên trong Thuỷ kinh chú cho biết huyện này do Mã Viện đặt ra năm Kiều Vũ thứ 19 (năm 43). Hậu Hán thư (q.54) chép rằng Mã Viện thấy huyện Tây Vu quá rộng nên đã chia đặt làm hai huyện Phong Khê và Vọng giải. Sách Độc sử phương dư kỉ yếu chép
rằng: "Ở phía đông thành cũ Phong Khê có huyện Vọng Hải". Xét vị trí
huyện Vọng Hải nằm về phía đông thành Phong Khê, tức thành Cổ Loa (nay
thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội) và phía bắc sông Cà Lồ thì
huyện Vọng Hải thời Hán bao gồm đất huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc và
miền đông bắc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ngày nay.
Như
vậy, dưới thời thuộc Hán, vùng đất Vĩnh Phúc ngày nay chủ yếu thuộc
huyện Mê Linh và một phần thuộc huyện Vọng Hải, quận Giao chỉ. Khi
ấy, vùng đất này có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với
chính quyền cai trị. Chính Mê Linh đã được sử dụng làm trụ sở đầu tiên
của quận Giao Chỉ và cũng là của châu Giao Chỉ.
Đầu
thời Hán, chế độ Lạc tướng ở các huyện vẫn được duy trì và chính sách
cai trị vẫn theo truyền thống cũ của người Việt. Phương thức bóc lột cơ
bản lúc này vẫn là cống nạp. Nhà Hán tuy đã áp đặt được một bộ máy đô hộ
ở các cấp châu, quận, song chính giới thống trị Hán tộc cũng phải thú
nhận là chúng chỉ có thể "dùng tục cũ mà cai trị", chứ không trực tiếp
cai quản được các huyện vì ở huyện vẫn theo chế độ Lạc tướng cha truyền
con nối của người Việt
Để
dễ bề cai trị và làm cơ sở cho việc vơ vét, bóc lột, ngay khi chia xong
đơn vị hành chính, nhà Hán tiến hành điều tra nhân khẩu và tài nguyên. Nhằm
thực hiện âm mưu đồng hoá, nhà Hán tiến hành những đợt di dân hàng loạt
sang đất Việt. Đặc biệt, sau loạn Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, đã
có một số khá đông quý tộc, địa chủ, sĩ phu Trung Quốc đem theo cả gia
đình và tộc thuộc di cư xuống Giao Châu, dựa vào chính quyền đô hộ để
sinh cơ lập nghiệp, xâm lấn ruộng đất và tài sản của người Việt. Nhiều
người trong số đó đã về sống ở các làng quê, hòa mình trong cuộc sống
dân gian và dần bị Việt hoá, trở thành người Việt.
Dưới
thời Thái thú Tích Quang (ở Giao Chỉ) và Nhâm Diên (ở Cửu Chân), chính
sách đồng hoá của nhà Hán ngày càng được tăng cường. Sách Hậu Hán thư chép:
"Đời Quang Vũ trung hưng, Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên
làm Thái thú Cửu Chân, dạy dân cày cấy, chế tạo mũ giầy, bắt đầu đặt mối
lái, dân mới biết hôn nhân. Dựng học hiệu, dạy dân lễ nghĩa". Thực ra,
đó là thủ đoạn thống trị, bóc lột và đồng hoá hết sức tinh vi của chính
quyền đô hộ Đông Hán. Ngoài việc bắt nhân dân ta phải cống nạp nhiều của
quý vật lạ, nhà Hán còn ráo riết thi hành chính sách bóc lột tô thuế
nặng nề, chiếm đất lập trang trại, nắm độc quyền sản xuất và mua bán một
số mặt hàng thiết yếu. Đồng thời ra sức củng cố và hoàn thiện chính
quyền đô hộ ở Giao Chỉ.
Năm
34, Tô Định thay Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ. Tô Định ra sức vơ
vét thuế khoá, khống chế, đè nén các Lạc tướng và con cháu họ, khiến cho
cả quý tộc cũ và nhân dân đều oán hận chính quyền đô hộ. Những hành
động đó càng làm cho nhân dân ta sôi sục lòng căm thù, quyết tâm nổi dậy
đấu tranh. Cùng với nhân dân khắp mọi miền, người dân Vĩnh Phúc đã nhất
tề đứng dậy, tập hợp dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng đấu tranh chống ách
đô hộ Hán. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất, tiêu biểu nhất của
người dân Vĩnh Phúc trong thời Bắc thuộc. Và Hai Bà Trưng chính là
những người con ưu tú nhất, vị anh hùng kiệt xuất nhất của Vĩnh Phúc
trong công cuộc đấu tranh chống phong kiến phương Bắc.
Sau
khi dập tắt cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 43), nhà Đông Hán càng
điên cuồng thực hiện chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hoá với quy mô
và hệ thống hơn trước. Bước điều chỉnh quan trọng đầu tiên của nhà Đông
Hán là ra sức tăng cường chế độ quận huyện. Đứng đầu chính quyền đô hộ ở
Giao Chỉ (sau đổi thành Giao Châu) vẫn là viên Thứ sử. Đứng đầu mỗi
quận (Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam)
là Thái thú. Tuy nhiên, Thái thú lúc này không chỉ coi việc dân sự, mà
còn kiêm quản cả việc quân sự. Bên cạnh đó, nhà Đông Hán còn bổ dụng
thêm một số lại viên giúp việc để chuyên trách các mảng công việc do
Thái thú giao. Ở cấp huyện, nhà Hán xoá bỏ danh hiệu và vai trò của
người đứng đầu là các Lạc tướng người Việt. Thay vào đó, nhà Hán đặt
chức Lệnh trưởng là các quan người Hán, do chính quyền Hán trực tiếp bổ
nhiệm và có toàn quyền quyết định mọi việc trong huyện.
Chính
sách thủ tiêu chế độ Lạc tướng và bãi bỏ luật pháp truyền thống của
người Việt cho thấy rõ âm mưu của bên phong kiến Hán là muốn biến nước
ta hoàn toàn trở thành những châu, quận, huyện dưới quyền cai trị của
chúng và nhân dân ta trở thành những "thần dân" của chúng.
Lúc
này, toàn bộ đất đai của người Việt đều bị chiếm đoạt, mặc nhiên thuộc
quyền sở hữu tối cao của các Hoàng đế Hán. Người dân cày cấy ruộng đất
công của công xã phải nộp tô, nộp thuế và chịu các nghĩa vụ lao dịch với
chính quyền đô hộ.
Với
chế độ tô thuế dựa trên việc thu nạp cống phẩm hết sức tuỳ tiện, không
theo những quy định, phép tắc chặt chẽ, thống nhất đã trở thành cơ hội
béo bở cho bọn quan lại lợi dụng bòn rút, vơ vét, cướp bóc của dân.
Cuối
thế kỉ II, đầu thế kỉ III, triều Đông Hán ở Trung Quốc suy yếu nhanh
chóng và sụp đổ. Nhân cơ hội ấy, chính quyền đô hộ ở Giao Châu đứng đầu
là Sĩ Nhiếp đã tìm mọi cách tuyệt giao với phương Bắc, cát cứ ở phương Nam.
Chúng mặc sức đục khoét, vơ vét của cải và áp bức dân chúng. Năm 226,
Sĩ Nhiếp chết, nước ta lại lệ thuộc vào phong kiến nhà Ngô.
Năm
264, nhà Ngô cắt bốn quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm và Hợp Phố đặt
làm Quảng Châu, còn Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thuộc Giao Châu, châu
lị đóng ở Long Biên. Tại Giao Châu, nhà Ngô chia ra thành nhiều quận,
huyện nhỏ. Quận Giao Chỉ khi ấy được tách làm 3 quận là Giao Chỉ, Tân
Hạng và Vũ Bình; quận Cửu Chân được chia thành Cửu Chân và Cửu Đức; chỉ
có quận Nhật Nam là giữ nguyên. Miền đất Vĩnh Phúc khi ấy thuộc huyện Mê
Linh, quận Tân Hưng. Huyện lị Mê Linh vẫn ở địa điểm làng Hạ Lôi (nay
thuộc xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) như thời thuộc Hán.
Dưới
thời thuộc Ngô, chính sách vơ vét của cải vô hạn định bằng hình thức
cống nạp được tăng cường hơn trước. Chúng còn ra sức lùng bắt dân thường
bổ sung cho quân đội trong cuộc hỗn chiến đẫm máu thời Tam Quốc.
Chính
sách cống phú, tô thuế nặng nề của chính quyền đô hộ đã dẫn đến tình
trạng phá sản, bần cùng, lưu vong của đông đảo quần chúng nông dân,
khiến cho "trăm họ xác xơ". Nhiều thành viên công xã người Việt phải rơi
xuống thân phận nô tì. Tình trạng đó lại trở thành điều kiện thuận lợi
cho chính quyền đô hộ thực thi chính sách di dân, lập đồn điền mà thực
chất chính là thủ đoạn bóc lột tàn khốc hơn.
Năm
280, Tấn diệt Ngô, Trung Quốc tạm thời thống nhất. Quan cai trị của nhà
Ngô ở Giao Châu là Đào Hoàng đầu hàng nhà Tấn. Vua Tấn cho Đào Hoàng
giữ chức cũ. Khu vực nước ta chuyển sang ách đô hộ của nhà Tấn kẻo đài
cho đến đầu thế kỉ V. Năm 420, Lưu Dữ lập ra nhà Tống. Cũng từ đây,
Trung Quốc hình thành cục diện Nam - Bắc triều, trong đó
Giao Châu phụ thuộc một cách lỏng lẻo vào các thế lực phong kiến Nam
triều: Tống (420- 479), Tề (479-502), Lương (502-557), Trần (557-589).
Dưới
thời thuộc Tấn, đơn vị hành chính của Giao Châu cơ bản vẫn được giữ
nguyên như đời Ngô. Đất Vĩnh Phúc ngày nay vẫn thuộc huyện Mê Linh, quận
Tân Xương.
Năm
589, nhà Tuỳ thống nhất Trung Quốc. Để khẳng định quyền thống trị của
mình, nhà Tùy tiến hành phân lại các quận, huyện. Miền đất nước ta khi
đó được chia làm 6 châu: Giao Châu (châu thổ sông Hồng); Hưng Châu
(Phong Châu) khu vực Sơn Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ; Hoàng Châu (Ngọc Châu)
khu vực duyên hải Đông Bắc; ái Châu khu vực Thanh Hoá; Đức Châu (Hoan
Châu) khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh và Lợi Châu (Trí Châu) vùng Hà Tĩnh. Tuy
nhiên, chỉ ít lâu sau, năm 697 Tuỳ Dưỡng Đế lại bỏ đơn vị hành chính cấp
châu và lập lại cấp quận. Khi ấy, miền nước ta bao gồm 7 quận là: Giao
Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Ninh Việt, Tị Ảnh, Hải Lâm và Lâm Ấp. Trong
đó quận Giao Chỉ gồm 9 huyện là: Tống Bình, Long Biên, Chu Diên, Long
Bình, Bình Đạo, Giao Chỉ, Gia Ninh, Tân Xương và An Nhân. Miền đất Vĩnh
Phúc thời Tuỳ thuộc huyện Tân Xương, quận Giao Chỉ.
Năm
618, nhà Đường thay nhà Tuỳ thống trị Trung Quốc. Quan cai trị Giao
Châu khi ấy là Khâu Hoà hàng phục nhà Đường, được vua Đường trao chức
Giao Châu Đại tồng quản. Đất nước ta chuyền sang ách đô hộ của nhà
Đường.
Nhà
Đường lập tức bãi bỏ các quận do nhà Tuỳ lập và khôi phục lại các châu
nhỏ thời Nam Triều, đặt ra Giao Châu Đại tổng quản phủ để quản lãnh 10
châu ở toàn bộ khu vực miền Bắc nước ta đến khu vực Đèo Ngang ngày nay,
gồm: Giao Châu, Phong Châu, Ái Châu, Tiên Châu, Diên Châu, Tống Châu, Từ
Châu, Hiểm Châu, Đạo Châu và Long Châu. Năm 622 nhà Đường đổi gọi Giao
Châu Đại tổng quản phủ thành Giao Châu Đô hộ phủ. Năm 679 Đường Cao Tông
chia đất Giao Châu làm 12 châu và đổi gọi thành An Nam Đô hộ phủ. Đứng
đầu An Nam Đô hộ phủ là một viên Đô hộ hay Kinh lược sứ, đứng đầu các
châu là chức Thứ sử.
Trong
số đó, Phong Châu là châu mới đặt, bao gồm 5 huyện là Gia Ninh, Thừa
Hoá, Tân Xương, Cao Sơn và Châu Lục. Miền đất Vĩnh Phúc ngày nay vẫn
thuộc huyện Tân Xương.
Tiếp
tục chính sách của các triều đại trước, nhà Tuỳ - Đường tăng cường các
biện pháp vơ vét, áp bức và nô dịch. Cả nhà Tuỳ và nhà Đường đều ráo
riết thi hành các thủ đoạn cai trị xảo quyệt, hà khắc và ngu dân. Chúng
khống chế đất nước ta một cách chặt chẽ, nhưng về hình thức lại tỏ ra
“ràng buộc”, mua chuộc phần nào tầng lớp trên của xã hội. Những chức vụ
quan trọng nhất như Đô hộ, Kinh lược sứ An Nam nhà Đường thường cử người
gốc Trung Quốc nắm giữ. Những chức vụ không phải chủ chốt ở dưới cấp
châu, huyện, nhà Đường lại có chủ trương mở rộng cho tầng lớp hào trưởng
bản địa tham dự, hướng tới xây dựng bộ máy tay sai là người bản địa. Đây
thực chất chỉ là biện pháp mua chuộc, thu nạp các hào trưởng bản địa
với hy vọng có thể làm mai một, đi đến dập tắt ý chí đấu tranh giành độc
lập của nhân dân ta.
Về
mặt kinh tế, nhà Đường coi An Nam Đô hộ phủ là một trọng trấn để bóc
lột. Như các triều đại trước, nhà Đường vẫn duy trì phương thức bóc lột
truyền thống là bắt nhân dân ta phải cống nạp các loại lâm thổ sản quý
và sản phẩm thủ công địa phương (như tơ lụa, sa, the, đồ mây, đồ
gốm...). Sách Đại Nam nhất thống chí thế kỉ XIX cho biết miền đất Vĩnh
Phúc nổi tiếng với rất nhiều loại đặc sản, như lụa trắng ở Yên Lãng (Mê
Linh), vải trắng ở Yên Lạc, mật mía ở các huyện ven sông, gạo thơm ở Lập
Thạch, gạo trắng ở Bình Xuyên, thạch xương bồ ở Tam Dương... đó rất có
thể là những thứ cống phẩm khi xưa người dân Vĩnh Phúc phải nộp cho
chính quyền đô hộ.
Tuy
nhiên, hình thức bóc lột chủ yếu của nhà Đường đối với An Nam là tô
thuế. Để bóc lột tô thuế, nhà Đường đặt ra phép tô - dung - điệu (tô là
thuế ruộng đất, dung là thuế lao dịch và điệu là căn cứ vào hộ khẩu mà
thu thuế - thuế thân). Theo phép tô - dung - điệu thì đinh nam được chia
ruộng quân điền hàng năm phải nộp tô bằng lúa, phải nộp thuế điệu bằng
lụa, lĩnh, the, bông và phải chịu sai dịch (dung). Năm 780, nhà Đường
đổi phép tô - dung - điệu thành phép lưỡng thuế, vừa căn cứ vào chỉ xuất
tài chính mà định tổng ngạch thuế, vừa dựa vào thực trạng giàu, nghèo
mà định mức thu.
Ngoài
ra nhà Đường còn thu nhiều thứ thuế khác với lệ thuế rất nặng. Đó là
chưa kể đến bọn quan lại ở An Nam phần lớn đều tham nhũng, lợi dụng chức
quyền ra sức vơ vét, bóc lột của cải của nhân dân.
Chính
sách áp bức tàn khốc, vơ vét thậm tệ và đồng hoá thâm hiểm của các
chính quyền phong kiến phương Bắc đã đẩy nhanh quá trình bần cùng hoá
các tầng lớp nhân dân. Đó cũng là nguyên nhân chính thời bùng lên phong
trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta, trong đó có sự tham gia
tích cực của người dân Vĩnh Phúc suốt nghìn năm Bắc thuộc.