Làng Nam Cường là một trong ba làng thuộc xã Tam Đồng - huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện nay làng có 398 hộ dân với 2100 nhân khẩu, trong đó có 1213 người trong độ tuổi lao động. Diện tích đất nông nghiệp của làng hiện nay chỉ vào khoảng 85 ha. Tuy thuộc một huyện có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh trong mấy năm gần đây, nhưng nhân dân xã Tam Đồng nói chung và làng Nam Cường nói riêng vẫn chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp một năm 2 vụ lúa và rau màu, ít trồng vụ đông. Ngoài sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, làng còn có nghề chính là đan bồ cót, sòng, quạt và một số vật dụng khác.
 

Người làng kể lại, Nam Cường vốn đã có nghề đan cót và đan bồ từ lâu đời nay. Không một ai biết được nghề này có từ bao giờ, chỉ biết rằng đó là nghề do ông cha để lại. Cho đến tận bây giờ, vẫn chưa có tài liệu nào xác định lịch sử hình thành của làng nghề, nhưng các cụ cao niên trong làng cho biết: nghề đan cót đã tồn tại ở làng Nam Cường từ hàng trăm năm nay. Người làng Nam Cường từ bao đời đã có tính cần cù, tỷ mỉ và khéo léo. Thường khi những tiết nông nhàn, người làng lại rủ đan lát rổ rá và nhiều vật dụng. Lúc đầu, người ta chỉ tận dụng các nguyên liệu sẵn có trong vườn nhà, hoặc những nguyên liệu dễ kiếm để làm ra các sản phẩm phục vụ cho chính đời sống hàng ngày của mình. Dần mãi sau này, các sản phẩm của Nam Cường đã theo chân người làng sang các địa phương lân cận. Người ta bảo nhau rằng: các sản phẩm của Nam Cường được làm bằng thứ nguyên liệu tốt, qua bàn tay người thợ, sản phẩm luôn đẹp và có độ bền cao, người ta càng dùng thì càng thấy bền đẹp. Nhờ thế mà các sản phẩm đan lát thủ công của Nam Cường đã có tiếng và được người dùng ưa thích từ bao đời nay.


Dù có nghề phụ trong tay, nhưng suốt trong thời gian dài, các sản phẩm của Nam Cường vẫn chỉ để phục vụ cho chính cuộc sống của người làng. Số ít được mang ra trao đổi, buôn bán nhưng lời lãi cũng không đáng kể. Thời bao cấp đi qua, người dân quanh năm lam lũ, vất vả mà vẫn không thoát cảnh nghèo, nghề làng tưởng như không còn tồn tại. Những người say nghề, muốn giữ gìn nghề của ông cha cũng chỉ làm cho đỡ quên nghề. Khi nền kinh tế thị trường mở ra và mang theo một cơn gió mới, quê hương Vĩnh Phúc nói chung và mảnh đất Tam Đồng có nhiều khởi sắc, người ta bắt đầu muốn khôi phục và phát triển thêm “kho báu” mà ông cha để lại, không chỉ vì những lợi ích kinh tế mà còn vì truyền thống lịch sử và văn hoá. Không để cho nghề truyền thống bị quên lãng, đời sống của người dân chịu mãi cảnh nghèo, Đảng uỷ, UBND xã Tam Đồng đã trăn trở để tìm ra hướng đi mới cho nghề và cho những người làm nghề.

 

Mới đầu, ngoài các sản phẩm đan lát truyền thống, lãnh đạo xã đã hướng các gia đình làm nghề chuyển một phần sang đan lát những mặt hàng mới bằng mây tre như lẵng đựng hoa quả, giỏ đựng đồ… Sau dần, thấy ưu điểm của nghề mây tre đan nhẹ nhàng, phù hợp với mọi lứa tuổi được người tiêu dùng nhiều nơi yêu thích và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ gia đình đã thay đổi nghề đan cót ép thành nghề mây tre đan và chuyển sang làm hàng mây xiên xuất khẩu làm vệ tinh cho các công ty mây tre đan xuất khẩu các tỉnh bạn hoặc để xuất khẩu. Chỉ trong vài ba năm, đã có đến 60 – 70% các hộ gia đình trong làng chuyển sang đan mây tre xiên. Giá trị một ngày công làm hàng mây xiên cao hơn nghề đan cót truyền thống từ 2 đến 3 lần. Ở Nam Cường, hàng chục doanh nghiệp tư nhân, cơ sở sản xuất và dạy nghề được hình thành, thu hút các lao động không chỉ trong huyện, trong tỉnh.

 

Hiện nay, nghề mây xiên ngày càng có nhiều triển vọng phát triển. Nghề đan mây tre xiên cũng không quá phức tạp và đòi hỏi cầu kỳ như nhiều nghề khác. Những người muốn làm nghề chỉ cần chừng vài tháng ở một khoá đào tạo ngắn hạn là đã có thể làm thành thục một sản phẩm thô dùng để xuất khẩu. Để làm được một sản phẩm mây xiên xuất khẩu thì điều cần nhất ở người làm là sự cần cù, tỉ mỉ và khéo léo. Nguyên liệu để làm các sản phẩm xuất thô hiện nay là song và sợi mây được nhập khẩu hoặc lấy từ các tỉnh trong nước. Hầu hết các nguyên liệu này đều đã được chế biến sẵn. Các cơ sở sản xuất lấy nguyên liệu này về, rồi chia ra cho từng hộ, từng người đăng ký tuỳ theo mức độ hoàn thành của mình. Tại đây, người ta tạo ra các sản phẩm theo hình dáng, kích thước đã định sẵn. Sau khi hoàn thành sản phẩm, họ sẽ trả lại cho cơ sở sản xuất để hoàn thành nốt những khâu còn lại. Thông thường, một người mới học nghề ra, trong một ngày có thể làm được 2, 3 sản phẩm hoàn chỉnh. Người ta có thể tận dụng làm tại nhà, công việc lại không nặng nhọc, vất vả, không phải bỏ chi phí đầu tư và lại cho thu nhập cao nên đã thu hút được mọi tầng lớp tham gia từ các cháu thiếu niên đến các cụ già. Nguồn lao động dôi dư và nhàn dỗi trong nông nghiệp được tận dụng tối đa.

 

Có nghề, đời sống của người dân làng Nam Cường thay đổi rõ rệt, nhiều gia đình giờ đã khấm khá, không những không phải lo ăn mà còn mua được Ti vi, tủ lạnh, xe máy… nuôi các con ăn học đầy đủ. Anh Tạ Xuân Hinh - Chủ tịch Hội nông dân xã Tam Đồng, một trong những người có công đem nghề mây xiên về cho Nam Cường đã nói: Nam Cường vốn đã có nghề đan lát từ lâu đời, thế nhưng dân làng vẫn còn nghèo lắm. Người Tam Đồng không cam phận nghèo, chúng tôi đã mày mò tìm kiếm đem nghề về cho người dân. Đến nay, các cơ sở của chúng tôi vừa truyền nghề và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động không chỉ ở Vĩnh Phúc mà cả ở Quảng Ninh, Hải Phòng”. Hàng vạn sản phẩm mỹ nghệ của Tam Đồng đã được xuất khẩu sang thị trường: Mỹ, Nhật, Đức, Italia,…Năm 2006, giá trị sản xuất của nghề truyền thống đã chiếm 70% tổng giá trị sản xuất của làng. Hiện nay, thôn cũng đã thành lập được một doanh nghiệp đứng ra cung ứng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm cho nhân dân. Mỗi một ngày công, với 2, 3 sản phẩm hoàn thành thì thu nhập có thể được 40, 50 nghìn đồng. Làm nghề này không phải đi xa, mát mẻ, cũng không vất vả. Thu nhập bình quân mỗi tháng được trên 1 triệu đồng. Đời sống nhân dân được cải thiện, tệ nạn xã hội trong thôn xóm được đẩy lùi. Nhân dân yên tâm sản xuất và lao động, đời sống thật yên bình.

 

Về Nam Cường bây giờ, dù là vào ngày mùa, người ta thấy khung cảnh tĩnh mịch của một làng quê khác với những làng quê khác. Từng nhóm người tụm năm, tụm ba. Trong lúc những bàn tay thoăn thoắt và khéo léo đan mây và song, họ vẫn chuyện trò rôm rả, những câu chuyện làng trên, xóm dưới và cả chuyện làm nghề./.

Thuỳ Linh