Ký ức của những người thầy “cõng chữ” lên non

19/11/2019

Những câu chuyện cách đây non nửa thế kỷ, của 40 năm trước, tưởng chừng đã phai nhạt theo thời gian nay bỗng sống động như mới trong cuộc trò chuyện của chúng tôi với các thầy, cô giáo vùng xuôi từng để lại cả thời thanh xuân của mình trên miền Tây Bắc. Khó khăn, gian nan chồng chất không làm đứt quãng sự nghiệp trồng người của họ. Lòng yêu nghề, nhiệt huyết ấy theo họ cho đến tận hôm nay, trở thành vốn liếng để họ trao truyền lại cho các thế hệ sau, động viên con cháu tiếp tục gắn bó với nghề dạy học thiêng liêng và cao quý. Họ là các hội viên Hội Cựu giáo chức thành phố Phúc Yên.

Các thầy cô giáo từng tham gia dạy chữ ở các tỉnh Tây Bắc
cùng ôn lại những kỷ niệm xưa

Ông Trần Thanh Thuẫn hiện đang là Chủ tịch Hội Cựu giáo chức thành phố Phúc Yên. Gắn bó với vùng Tây Bắc gần 10 năm, ông Thuẫn từng là Đồn phó Đồn biên phòng Sốp Cộp, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, được bà con trìu mến gọi là "người thầy mang quân hàm xanh".

Sau khi học xong cấp 3, năm 1964, anh thanh niên Trần Thanh Thuẫn vào bộ đội, công tác tại đồn biên phòng Sốp Cộp. Là một trong số ít chiến sỹ đã học hết cấp 3 và có khả năng truyền đạt biểu cảm, ông Thuẫn được giao nhiệm vụ dạy học cho con em nhân dân các dân tộc thiểu số trong vùng. Xa gia đình với lòng yêu trẻ tha thiết, người chiến sỹ ấy đã dồn hết tâm huyết cho công việc dạy chữ. Ông cùng các cán bộ, chiến sỹ đồn biên phòng xây dựng lán trại, đi xuống từng bản vận động các cháu đi học. Ngày ấy, những người lính biên phòng vừa là thầy, là cha của học sinh. Bởi không chỉ dạy chữ, các anh còn phải dạy cả cách nấu cơm, cách ăn mặc, chải đầu, cắt tóc…

Đồng bào ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, Hơ – mông với phong tục tập quán lạc hậu, hầu hết đều không biết chữ phổ thông, chỉ biết tiếng dân tộc. Để có thể dạy chữ cho con em họ, thầy giáo Thuẫn phải học cả tiếng dân tộc, cùng ăn, cùng lên nương rẫy với bà con để tuyên truyền, vận động đồng bào cho con em học chữ. Tình quân dân ngày càng thắm thiết, các chiến sỹ, người thầy đầy tâm huyết đã tạo được niềm tin của đồng bào. Từ vài cháu theo học chữ, dần dần phát triển lên 30 cháu. Mỗi phòng học có 2 lớp, thầy Thuẫn phụ trách cả 2 lớp. Với nỗ lực không ngừng của những chiến sỹ đồn biên phòng, nhất là đội ngũ những người thầy như thầy Thuẫn, càng ngày, lượng học sinh theo học chữ càng đông. Nhiều em trong số lớp học sinh thời ấy giờ đã trở thành các thầy, cô giáo. Lớp học giờ đây cũng đã được xây dựng thành Trường Tiểu học Sốp Cộp, huyện Sông Mã với những ngôi nhà cấp 4 khang trang. Còn người thầy ngày ấy giờ đây đã ở tuổi xế chiều. Mỗi khi nhớ lại quãng đời dạy học đáng nhớ, trong ông dâng lên niềm xúc động, tự hào bởi đã góp sức vào công tác xóa mù và xây dựng nên ngôi trường cho học sinh đồng bào dân tộc miền núi huyện Sốp Cộp.

Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc, năm 1969, tròn 16 tuổi, cô Đặng Thị Biên xung phong lên Lào Cai dạy chữ. Nơi cô đến là xã Ngải Thầu, khu vực Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Đây là xã cao nhất, xa nhất của huyện Bát Xát và năm cô lên đây cũng là năm đầu tiên có chủ trương đưa giáo viên nữ về tham gia chiến dịch diệt dốt. Cô Biên cùng 2 giáo viên nữ được phân công đến thôn Cán Cấu, xã Ngải Thầu, nơi có đồng bào dân tộc Hơ – mông sinh sống. Từ Lào Cai đến trường dạy chữ hồi ấy phải đi bộ hết 2 ngày, 5 tiếng đồng hồ. Cuộc sống của nữ giáo viên trẻ bắt đầu thay đổi với chính sách 3 cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng lên rẫy với đồng bào vùng cao. Điều ám ảnh nhất của cô đến giờ vẫn là những ngày đầu tiên một mình sống cùng đồng bào dân tộc Hơ – mông trong khi không biết tiếng, chưa quen nếp sống, tập quán người dân tộc, nhưng phải thực hiện trọng trách nặng nề là vận động được bà con cho con em đến trường. Khó khăn nhất là vận động học sinh đi học vào những ngày mùa và những học sinh nữ ở độ tuổi 13, 14 tuổi bởi tình trạng tảo hôn ở người Hơ – mông còn diễn ra phổ biến. “Cuộc sống của một giáo viên trẻ như tôi đã thay đổi hoàn toàn khiến nhiều lúc tôi phát khóc bởi cả tuần không được tiếp xúc với người Kinh, chỉ giao tiếp và sinh hoạt cùng người dân tộc”- cô Biên chia sẻ.

Dù đã về hưu, cô Biên vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương

Khó khăn hơn nữa là thời tiết ở đây rất khắc nghiệt. Mùa đông lạnh giá, rét mướt, có tuyết rơi. Mỗi buổi sáng thức dậy, cô phải đập từng tảng băng để đun lên lấy nước uống, sinh hoạt. Nhưng cô Biên không chùn bước. Cô được giao dạy chữ cho 16 học sinh ở 3 trình độ lớp 1, lớp 2 và lớp 3 trong cùng một buổi dạy; đào tạo học sinh cho đến hết lớp 4 rồi đưa về trường dân tộc nội trú của huyện. Ngoài ra, buổi tối, cô tham gia dạy bổ túc văn hóa 2 buổi/tuần cho thanh niên trong xã. Cô cũng có nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn cho cán bộ xã đọc, hiểu, xử lý các văn bản chỉ đạo cấp trên giao.

Công việc dần đi vào quỹ đạo, cô và trò ngày càng khăng khít hơn. Để đến giờ, nhiều kỷ niệm khiến cô Biên còn nhớ như in trong đầu. 16 học sinh mỗi người mang từ nhà cho cô 1 con gà con để nuôi cho đỡ buồn. Có đợt cô phải đi công tác mấy ngày, khi về học sinh kể lại: “Cô đi công tác, con gà nó ở nhà, nó nhớ cô nó khóc, khóc.” Những tình cảm vừa ngây ngô, chân thật, vừa đáng yêu của lũ trẻ khiến cô Biên không giấu nổi xúc động và cảm thấy yêu hơn, trân trọng hơn khoảng thời gian quý báu này.

Tổng kết chiến dịch diệt dốt, cô Biên đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. Năm 1973, cô chuyển công tác về Trường THCS thị trấn Phố Lu, vẫn là trường miền núi nhưng cơ sở vật chất và điều kiện sinh hoạt bớt khó khăn hơn. Sau 10 năm gắn bó với vùng cao, năm 1979, cô trở về dạy học tại thành phố Phúc Yên và đến năm 2008 thì về nghỉ chế độ hưu trí.

Mặc dù đã nghỉ hưu nhưng cô Biên vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Hiện cô là Phó chủ tịch Hội cựu giáo chức phường Trưng Trắc, thành phố Phúc Yên; thanh tra Hội Cựu giáo chức thành phố; Phó Bí thư, Tổ trưởng Tổ dân phố, Chi hội trưởng chi hội phụ nữ tổ dân phố số 2, phường Trưng Trắc.

Cũng có xuất phát điểm là một quân nhân nhưng cụ Nguyễn Văn Vẽ, phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên lại có duyên gắn bó với nghề giáo; cụ đã theo nghề đến khi nghỉ chế độ về hưu. Năm nay, cụ Vẽ tròn 95 tuổi.

Những năm 1945-1948, phong trào chống nạn mù chữ rầm rộ khắp nơi, anh thanh niên Nguyễn Văn Vẽ khi ấy mới 17 tuổi đã tham gia dạy chữ cho các cháu nhỏ, thanh niên tại quê nhà. Vào bộ đội, với khả năng sẵn có, người chiến sỹ ấy lại đảm nhiệm việc dạy văn hóa cho bộ đội kết hợp dạy chữ cho học sinh vùng dân tộc miền núi tỉnh Lai Châu. Nơi thầy đã từng dạy chữ là các huyện: Sìn Hồ, Phong Thổ - nơi có đông đồng bào dân tộc Thái đen, Thái trắng, Lô lô và Hơ - mông sinh sống. Thầy còn nhớ rất rõ, hồi ấy, vận động học sinh đến lớp không chỉ cần tiếp cận gia đình, bố mẹ, người thân mà phải tiếp xúc, vận động từ các già làng, trưởng bản. Việc tuyên truyền, vận động khó khăn, nhưng được học chữ, dần dần thói quen, quan niệm, hủ tục lạc hậu của người dân tộc được loại bỏ. Nhờ có cái chữ, đầu óc được mở mang, nhiều người dân tộc đã thay đổi cách nghĩ, cách làm, góp phần ổn định đời sống.

Thầy Vẽ chia sẻ: Nói thì đơn giản vậy, nhưng quá trình tiếp xúc với các già làng, trưởng bản không phải dễ dàng bởi khi mới lên vùng cao dạy chữ, các chiến sỹ chưa biết tiếng dân tộc, chưa hiểu nếp sống, sinh hoạt của đồng bào. Rồi điều kiện đi lại khó khăn, có những bản cách nhau cả ngày đường, muốn tuyên truyền, vận động cũng cần cả quá trình. Một bí quyết nữa đến giờ thầy Vẽ mới tiết lộ, để tạo sự gần gũi, gắn kết đồng bào dân tộc với người Kinh, thầy thường tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao sôi nổi, lôi cuốn đồng bào tham gia. Có như vậy, tình quân dân thắm thiết, tình người càng gắn chặt và thầy đã hoàn thành tốt công tác dạy chữ ở vùng cao này.

Năm 1960, thầy Vẽ chia tay các học sinh vùng cao sau hơn 10 năm gắn bó để sang Liên Xô (cũ) học tập. Hoàn thành luận án Tiến sỹ ngành Xây dựng, thầy tiếp tục theo nghề giáo, về giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đến khi nghỉ hưu.

Lắng nghe câu chuyện họ kể, chúng tôi thực sự xúc động trước sự hy sinh thầm lặng của những người thầy đã cống hiến cho sự nghiệp xóa mù ở vùng cao trong thời điểm đất nước còn trong cảnh bom rơi đạn lửa. Chính tình cảm chân thành, đầm ấm của đồng bào dân tộc khi đó đã tiếp thêm động lực, thôi thúc họ làm điều gì đó để giúp nơi này vơi bớt khó khăn. Với tâm niệm như vậy, họ đã sống những tháng ngày thật ý nghĩa của sự nghiệp trồng người.

Hồng Yến

Các tin đã đưa ngày: