Vĩnh Phúc phát triển kinh tế - xã hội từ khâu đột phá

16/12/2005
Vĩnh Phúc phát triển kinh tế - xã hội từ khâu đột phá
Là một tỉnh thuần nông, kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Vĩnh Phúc có nhiều lợi thế như: gần thủ đô...

VĨNH PHÚC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỪ KHÂU ĐỘT PHÁ


Là một tỉnh thuần nông, kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Vĩnh Phúc có nhiều lợi thế như: gần thủ đô, có hệ thống giao thông thuận lợi, lực lượng lao động dồi dào...Đứng trước thời cơ và thách thức, Vĩnh Phúc đã chọn khâu đột phá là: thu hút đầu tư để phát triển. Từ năm 2000 – 2005, tỉnh đã thu hút được 450 dự án với tổng số vốn đăng ký 11,7 tỉ USD, chiến hơn 90% tổng số vốn dự án và tổng số vốn đăng ký đầu tư vào địa bàn từ trước tới nay; đền bù, giải phóng mặt bằng hơn 2.000 ha đất phục vụ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng kết cấu hạ tầng; hình thành thêm 11 khu công nghiệp, cụm công nghiệp với tổng diện tích hơn 2.644 ha. Trong 139 dự án đã đưa vào hoạt động, hầu hết đạt kết quả, góp phần quyết định gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất, nhập khẩu, tổng thu ngân sách trên địa bàn và giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động.

Quy mô vốn đầu tư phát triển tăng nhanh. Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn năm 2005 ước đạt trên 7.500 tỉ đồng, tăng gấp 9 lần so với năm 2000. Cơ cấu đầu tư được đổi mới, hướng mạnh vào nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội. Vốn từ ngân sách đã tập trung đầu tư xay dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn phát triển nguồn nhân lực, xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ các vùng khó khăn. Từ nguồn vốn tập trung, tỉnh đã làm mới hơn 250 km tỉnh lộ, huyện lộ và đường nội thị, cứng hoá trên 60 km mặt đê các loại; hỗ trợ cho các địa phương xây dựng hơn 500 km đường thôn, xóm, kiên cố hoá 1.973 km kênh mương thuỷ lợi nông thôn, (đạt 53%); xây mới, nâng cấp hệ thống điện và nhiều công trình văn hoá - thể thao, công trình phúc lợi xã hội. Có thể nói do có chính sách hợp lý, nhất là sự quản lý, lãnh đạo thống nhất, chặt chẽ từ tỉnh đến huyện và xã, đồng thời tăng cường cải cách hành chính nên đầu tư ở Vĩnh Phúc đạt nhiều kết quả về quy mô, công nghệ, bảo đảm môi trường...

Do chọn và làm tốt khâu đột phá nên ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đều có tốc độ tăng trưởng khá. Bình quân giá trị sản xuất toang ngành tăng 6,7%/ năm (mục tiêu đề ra :4,5% - 5%), trong đó nông nghiệp tăng bình quân 6,5%/năm, thuỷ sản tăng bình quân 19,5%/năm. Tỷ trọng ngành nông – lâm nghiệp - thuỷ sản trong cơ cấu kinh tế giảm từ 31,2% xuống còn 21,33%. Cơ cáu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành chuyển dịch tíc cực, tỷ trọng trồng trọt giảm từ 71,3% xuống còn 60,9%, chăn nuôi từ 25,2% lên 35,3% (mục tiêu đặt ra là 30%), thuỷ sản tăng từ 2,6% lên 5,2%.

Sản xuất công nghiệp – xây dựng duy trì mức tăng trưởng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng

22,1%/năm (mục tiêu đề ra là 16%). Riêng giá trị sản xuất công nghiệp tăng 21,9%/năm, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 63,5%/năm, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%. Bước đầu, trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn như: cơ khí, lắp ráp ô tô, xe máy, các sản phẩm hỗ trợ, vật liệu xây dựng, dệt may, da giày…Phần lớn các sản phẩm công nghiệp chủ yếu như ô tô, xe máy , gạch ốp lát, đồ gỗ nội thất, săm lốp, quần áo may sẵn…. đều tăng  cao và vượt xa so với mục tiêu đề ra. Cơ cấu sản xuất hàng hóa chuyển dịch tích cực theo hướng tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu, hàng tiêu dùng  và hàng có chất lượng cao.

Hoạt động thương mại, dịch vụ có chuyển biến tích cực, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống. Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân 11,8% năm (mục tiêu đề ra là 9% năm). Kinh doanh thương mại khá sôi động, bảo đảm lưu thông hàng hóa trong và ngoài tỉnh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 1,5 lần. Hoạt động xuất nhập khẩu đạt kết quả cao, kim ngạch xuất khẩu năm 2005 ước đạt 180 triệu USD (mục tiêu đề ra: 40 – 45 triệu USD). Du lịch có bước phát triển mới. Trên địa bàn tỉnh đang hình thành nhiều khu du lịch tập trung có chất lượng cao, là cơ sở để những năm tới đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Công tác quản lý nhà nước về thương mại, du lịch được tăng cường. Vận hành chuyển hóa và vận tải hành khách tăng mạnh. Bưu chính – viễn thông có tốc độ tăng trưởng cao, cơ sở vật chất phát triển nhanh. Toàn tỉnh có 95.092 máy điện thoại, đạt tỷ lệ 8,5% máy/100 dân. Khai thác dịch vụ Internet bước đầu phát triển.

Thu, chi ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt kết quả cao. Tổng thu ngân sách trên địa bàn, bình quân đạt 1.865 tỉ đồng/năm (mục tiêu đề ra: 600 tỉ đồng/năm), tốc độ tăng bình quân 34,1% năm. Cơ cấu thu có sự chuyển đổi tích cực, thu nội địa tăng, bình quân 43,4% năm và chiếm hơn 70% tổng thu ngân sách trên địa bàn. Năm 2005, chi ngân sách địa phương ước tăng 2,5 lần so với năm 2000, trong đó chi cho đầu tư phát triển bình quân chiếm trên 40% năm. Từ năm 2004, tỉnh đã tự cân đối được thu chi ngân sách và có đóng góp cho ngân sách trung ương.

Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ và phát triển hài hòa với tăng trưởng kinh tế. Ngành giáo dục – đào tạo phát triển cả về quy mô, chất lượng, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Mạng lưới trường, lớp được củng cố và dần ổn định. Chất lượng giáo dục – đào tạo có tiến bộ. Số học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia tăng, hằng năm đều có học sinh tham gia thi và đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế. Cơ sở vật chất cho dạy và học được tăng cường, tỷ lệ phòng học kiên cố ở bậc phổ thông đạt 70% (tăng 23%). Đội ngũ giáo viên được bổ sung về số lượng, nâng cao về chất lượng; gần 100% giáo viên phổ thông đạt chuẩn trở lên. Giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục thường xuyên ngày càng được chú trọng và quan tâm đầu tư. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng. Vĩnh Phúc đã chú trọng việc giáo dục dạy nghề để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa. Tỉnh có nhiều cơ sở dạy nghề với hàng chục ngành nghề khác nhau và có hàng ngàn học sinh theo học để phục vụ cho các khu công nghiệp ở địa phương. Tuy nhiên, đến nay, lực lượng lao động vẫn chưa đạt được nhu cầu cả về  số lượng và chất lượng, đòi hỏi tỉnh tiếp tục quan tâm và thực hiện tốt hơn nữa trong thời gian tới.

Về khoa học, công nghệ của tỉnh phát triển khá. Trong 5 năm đã có 242 đề tài khoa học được nghiệm thu, trong đó có 65,7% đề tài đã được ứng dụng vào sản xuất, đời sống và bước đầu đạt hiệu quả. Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trên địa bàn. Chương trình tin học hóa trong các cơ quan đảng, nhà nước đạt kết quả bước đầu.

Sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Hệ thống y tế  từ tỉnh đến các xã được tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ; chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên. Toàn tỉnh có 98,7% số xã có trạm y tế, 21,7% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 88,8% trạm y tế có bác sỹ, đạt tỷ lệ 4 bác sỹ/1 vạn dân. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai sâu rộng và đạt kết quả khá. Tỷ lệ  trẻ em được tiêm đủ 6 loại vắc-xin đạt 98%, số dân sử dụng muối iốt trên địa bàn đạt 95%. Công tác vệ sinh, phòng dịch được quan tâm, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2005 còn 1,05%, tỷ suất sinh giảm bình quân 0,48%. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được quan tâm thường xuyên. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi còn 25%, giảm 9% so với năm 2000.

Đời sống văn hóa ở cơ sở khởi sắc, 80% gia đình, 50% làng đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Các thiết chế văn hóa được tăng cường. Hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn hóa truyền thống được quan tâm. Các di tích, danh thắng trọng điểm của tỉnh như: Nhà lưu niệm Bác Hồ, Đền thờ Hai Bà Trưng, Tây Thiên, Chùa Hà, Đền Thích, di chỉ Đồng Đậu đã được tập trung quy hoạch, đầu tư xây dựng tôn tạo. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, thông tin được chú trọng.

Công tác xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu, giải quyết việc làm được tập trung chỉ đạo tốt và đạt nhiều kết quả. Bình quân mỗi năm tỉnh giải quyết việc làm cho 19,2 nghìn lao động, tăng 2,6% năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 29,6% (mục tiêu đề ra là 20% - 25%). Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 12,26% xuống còn 5,6%, bình quân giảm 1,25% năm (mục tiêu đặt ra là giảm 1% năm). Toàn tỉnh  đã xây dựng 4,865 nhà tình nghĩa và nhà đại đoàn kết, cơ bản xóa xong nhà tạm. Các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện tốt. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tăng gần 2,5 lần. Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động nhân đạo, từ thiện phát triển mạnh, đạt hiệu quả thiết thực. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế.

Từ thành tựu của những đổi mới, nhất là 5 năm gần đây, Vĩnh Phúc đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm quý giá:

Một là, tập trung làm tốt công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường quản lý thực hiện tốt quy hoạch.

Tập trung làm tốt công tác quy hoạch, bao gồm cả quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch chi tiết,…Công tác quy hoạch phải đi trước một bước để làm cơ sở xác định kế hoạch đầu từ phát triển cho từng thời kỳ, tạo môi trường thu hút đầu tư nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho phát triển. Việc lập quy hoạch phải đi đôi với điều chỉnh, cập nhật quy hoạch, nâng cao chất lượng quy hoạch đồng thời tăng cường công tác quản lý việc thực hiện quy hoạch. Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ giai đoạn 2006 – 2010, định hướng đến năm 2020, tập trung hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển đô thị, điều chỉnh và lập mới các quy hoạch đô thị trên địa bàn.

Hai là, chủ động quỹ đất để đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, đồng thời khai thác giá trị từ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Căn cứ vào quy hoạch đã được phê duyệt, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị làm tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bừng, coi đây là yếu tố quyết định đến môi trường thu hút đầu tư của tỉnh. Trong quá trình thực hiện phải công khai, dân chủ, minh bạch, trên cơ sở bảo đảm lợi ích nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, nhất là lợi ích của người dân trực tiếp giao đất cho các dự án. Quan tâm giải quyết nhu cầu về nhà ở, việc làm và bảo đảm đời sống của nhân dân. Tiếp tục triển khai chủ trương giao đất dịch vụ tạo việc làm cho các hộ có đất phải thu hồi. Thực hiện tốt việc đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Việc khai thác quỹ đất phải gắn với tiết kiệm đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Ba là, quan tâm đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Có các giải pháp đồng bộ nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt cần đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo lao động, trước hết cung cấp cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu du lịch, đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp, các lĩnh vực kinh tế nhằm giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, chuyển dịch cơ cấu lao động, khắc phục tình trạng gia tăng cơ học về dân số dẫn đến những thánh thức về môi trường, xã hội. Đa dạng hoá các loại hình đào tạo. Căn cứ vào quy hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh, của từng địa phương để xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững.

Bốn là, xây dựng cơ chế, chính sách hợp lý nhằm thu hút, ưu đãi và điều tiết đầu tư, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển.

Trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể nhằm thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư và điều tiết đầu tư trên địa bàn, khắc phục tình trạng đầu tư tập trung vào một vùng dẫn đến quá tải về hạ tầng xã hội. Đồng thời trong đầu tư chú ý tạo những hạt nhân phát triển ở mỗi vùng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Chú ý thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đặc biệt đất đai, vốn đầu tư cho sản xuất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, miễn thuỷ lợi phí, chế biến và tiêu thụ nông sản thực phẩm, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ...

Năm là, đẩy mạnh cải cách hành chính, trước hết là thủ tục hành chính. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

Giảm tối đa những thủ tục không cần thiết ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, quá trình sản xuất, kinh doanh, nhất là các thủ tục xin thuê đất, giao đất, cấp quyền sử dụng đất, cấp phép đầu tư, chống phiền hà, sách nhiễu trong triển khai thực hiện chính sách thuế, hải quan, tín dụng, các dịch vụ. Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, các ngành, khắc phục tình trạng chồng chéo trong quản lý hoặc bỏ trống không được quản lý. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ, công chức gắn với việc thực hiện công việc cụ thể được giao, đồng thời có các giải pháp đầy lùi bệnh quan liêu, tham nhũng trong cán bộ, công chức bọ máy nhà nước. Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp chủ động, tích cực tham gia tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Từ Thanh               
(Tạp chí cộng sản số 746)

Các tin đã đưa ngày: