Ngành Nông nghiệp với hành trình 365 ngày vượt khó

30/12/2019

Với mức tăng trưởng âm 2,87% so với năm 2018 và làm giảm 0,17 điểm % tăng trưởng chung của tỉnh, con số ngành Nông nghiệp tỉnh đạt được trong năm 2019 sẽ khiến không ít người cho rằng chưa thực sự tương xứng, nhất là khi tỉnh đã có hàng loạt cơ chế, chính sách dành cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, với những người luôn theo sát từng bước đi của ngành suốt 365 ngày qua sẽ hiểu, để có kết quả ấy, biết bao giọt mồ hôi, công sức đã đổ xuống…

Năm 2019, ngành Nông nghiệp Vĩnh Phúc nói chung và ngành chăn nuôi của tỉnh nói riêng đã chịu những tổn thất nặng nề chưa từng có do dịch tả lợi châu Phi gây ra. Dù đã triển khai nhiều biện pháp cấp bách phòng chống dịch, cuối tháng 3/2019, trên địa bàn tỉnh vẫn xuất hiện ổ dịch tả lợn châu Phi đầu tiên và nhanh chóng lây lan ra diện rộng với hơn 6.600 hộ ở 129 xã, phường, thị trấn của cả 9 huyện, thành phố bị ảnh hưởng; gần 109.000 con lợn phải tiêu hủy.

Chốt kiểm dịch động vật liên ngành được thiết lập nhanh chóng, kiểm soát 24/24h

UBND tỉnh đã ban hành hơn 60 văn bản chỉ đạo về công tác phòng chống và ngăn chặn nguy cơ xâm nhiễm bệnh; tăng cường kiểm soát việc buôn bán, giết mổ lợn, vận chuyển lợn, sản phẩm từ lợn; thực hiện việc lấy mẫu giám sát dịch bệnh đối với các đàn lợn ốm, chết để có biện pháp xử lý kịp thời. Đặc biệt, nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo Phòng chống dịch bệnh động vật và thành lập các chốt kiểm dịch động vật liên ngành cấp tỉnh, hoạt động 24/24h tại các địa bàn xung yếu. Theo đó, đóng vai trò nòng cốt, ngành Nông nghiệp đã huy động lực lượng lớn cán bộ ngày đêm bám sát địa bàn, bám sát từng hộ chăn nuôi lợn, căng sức chống dịch.

Tròn 6 tháng “biệt phái” ở chốt kiểm dịch đặt tại xã Quang Yên, huyện Sông Lô, chị Phùng Thị Thu Hà  - cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh chia sẻ: "Với cán bộ khuyến nông chúng tôi, chuyện dầm mưa dãi nắng hay thức khuya, dậy sớm chẳng có gì đáng ngại. Nhưng phải trực 24/24 giờ tại vị trí giáp ranh với tỉnh Tuyên Quang, dân cư thưa thớt, quán hàng không có trong một thời gian dài quả là không dễ dàng. Ban đầu, chúng tôi cứ nghĩ chỉ khoảng 1 - 2 tháng hết dịch sẽ được tháo chốt nên mọi thứ đều rất tạm bợ, đa phần phải ăn mỳ tôm thay cơm, sau thấy không ổn mới xin vào tá túc nhờ trong nhà dân. Khi chuyện ăn uống đã sắp xếp tạm ổn thì vào thời điểm tháng 6, nắng nóng kéo dài cũng đúng là cao điểm dịch, anh em phải phân công nhau đứng gác trên đường nhựa bỏng rát, nhiều lúc cảm thấy kiệt sức. Thế nhưng, đâu chỉ khó khăn, bất tiện về sinh hoạt cá nhân, khổ nhất là cuộc sống gia đình cũng bị đảo lộn theo, nhất là với chị em phụ nữ. Từ khi đi cắm chốt, tôi phải gửi 3 đứa con nhỏ nhờ ông bà ngoại trông nom, đưa đón đi học giúp vì chồng làm trong khu công nghiệp, thường xuyên làm việc theo ca. Chốt thì cách nhà tới hơn 60 km, thỉnh thoảng mới đoảng về qua nhà một tý, đứa bé nhớ mẹ cứ ôm chặt không cho đi. Thương con, nhiều hôm tôi khóc dọc đường, nhưng lên đến chốt lại cuốn vào công việc, lại nỗ lực hết mình với mục tiêu ngăn chặn dịch tả lợn châu Phi xâm nhiễm và lan rộng".

Gắn bó với chốt kiểm dịch động vật liên ngành đặt tại xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Tường từ khi bắt đầu thành lập, anh Trần Quang Trung chia sẻ: "Các cán bộ trực chốt kiểm dịch động vật vất vả nhất là về đêm. Chẳng những anh em không được ngủ mà còn phải căng mình làm việc, vì đêm đến là thời điểm những phương tiện chở động vật vi phạm quy định về kiểm dịch có thể lợi dụng để vận chuyển trái phép. Đường thông thoáng, hầu hết các chủ phương tiện đều chạy xe với tốc độ cao. Ngoài khó khăn trong công tác phát hiện, kiểm tra, kiểm soát, anh em còn đối mặt với nguy hiểm tai nạn giao thông rình rập."

Khó khăn, vất vả và cả nguy hiểm là thế nhưng hàng trăm cán bộ ngành Nông nghiệp trực các chốt kiểm dịch động vật cấp tỉnh, huyện cho đến xã vẫn động viên nhau nỗ lực vượt qua, không chút phàn nàn. Những bữa cơm ăn vội, họ dành thời gian làm việc với quyết tâm kiểm soát chặt chẽ, không để người và phương tiện vận chuyển động vật, trong đó, có lợn và sản phẩm từ lợn ở vùng có dịch đi ra ngoài và ngược lại.

Theo thống kê của các ngành chức năng, tác động của dịch tả lợn châu Phi khiến giá trị sản xuất ngành chăn nuôi toàn tỉnh giảm 6,15%; riêng đàn lợn đã giảm gần 28% so với năm 2018. Ngoài ra, ngân sách Nhà nước cũng đã chi hàng trăm tỷ đồng cho công tác phòng, chống và hỗ trợ tiêu hủy lợn mắc dịch.

Cũng trong năm 2019, ngành Nông nghiệp Vĩnh Phúc tiếp tục gặp khó khăn, thách thức khi thực trạng nông dân bỏ ruộng diễn ra ngày càng phổ biến. Mặc dù tỉnh đã có nhiều cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích người nông dân đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để thích ứng với bối cảnh mới. Cụ thể, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã dành hơn 11 tỉ đồng để cho nông dân vay vốn mua các loại máy nông nghiệp như máy làm đất, máy cấy, máy gặt đập liên hợp, máy vắt sữa bò, máy thái cỏ, máy nghiền, trộn thức ăn chăn nuôi. Bên cạnh đó, tỉnh còn đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thuê gom ruộng đất và bước đầu đã có những doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại một số địa phương trong tỉnh. Thế nhưng, vì nhiều nguyên nhân khiến những “bờ xôi ruộng mật” vẫn bị bỏ hoang, không chỉ làm mất đi nguồn thu nhập của người nông dân mà còn tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất nông nghiệp. Với diện tích gieo trồng cây hằng năm cả 3 vụ giảm gần 4.200 ha, trong đó, phần lớn là diện tích trồng lúa đã khiến năng suất lúa chỉ đạt 98,6% kế hoạch và giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Không chỉ vậy, trước những đòi hỏi của thị trường đầy cạnh tranh khốc liệt, năm qua, Nông nghiệp Vĩnh Phúc phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách khi sản xuất dàn trải, quy mô sản xuất nhỏ, đất đai manh mún, phân tán; công tác dồn thửa, đổi ruộng để tích tụ ruộng đất còn gặp nhiều khó khăn; liên kết sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi sản phẩm hạn chế, thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định; các cơ sở chế biến nhỏ lẻ, kém phát triển; sản phẩm nông nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu. Trong khi đó, hoạt động của nhiều hợp tác xã nông nghiệp yếu; các hình thức tổ chức sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, hợp tác xã chuyên cây - con chậm hình thành; hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu vẫn là hộ gia đình nên hiệu suất lao động thấp, giới trẻ không muốn gắn bó với nông nghiệp...

Xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi với các sản phẩm chủ lực là rau quả, cây ăn quả, cây dược liệu...
được coi là một trong những giải pháp giúp tỉnh hướng tới nền nông nghiệp phát triển bền vững

Tuy nhiên, những khó khăn này đã dần được hóa giải nhờ những cơ chế, chính sách khuyến khích người nông dân đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để thích ứng với bối cảnh mới, đặc biệt là nỗ lực của đội ngũ cán bộ, người lao động ngành Nông nghiệp. Để rồi khép lại hành trình một năm đầy nỗ lực, tổng giá trị sản xuất toàn ngành vẫn đạt hơn 10.000 tỷ đồng. Đây sẽ là động lực giúp ngành Nông nghiệp tự tin bước vào những nhiệm vụ mới nhằm xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa, giá trị gia tăng cao, trên cơ sở thực hiện tái cơ cấu lại ngành gắn với chuyển đổi lao động nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, 2 trong số những chỉ tiêu quan trọng được ngành Nông nghiệp Vĩnh Phúc đặt ra trong năm 2020 là phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh đạt 3,61%; đưa 100% các đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Theo đó, thời gian tới, ngành sẽ thực hiện đồng bộ các giải pháp, trọng lâm là tiếp tục rà soát, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với nhu cầu thị trường, thích ứng biến đổi khí hậu; đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất; chuyển giao các cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật thâm canh tăng vụ. Đồng thời, phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn, tổ chức sản xuất theo chuỗi đối với sản phẩm chủ lực như rau quả, cây ăn quả, cây dược liệu; khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Đặc biệt, nhằm cơ cấu lại lĩnh vực chăn nuôi, bên cạnh việc xây dựng các vùng chăn nuôi tập trung, các mô hình sản xuất chăn nuôi liên kết theo tiêu chuẩn VietGAP, nhất là đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh, ngành Nông nghiệp tỉnh sẽ tiếp tục tham mưu UBND tỉnh có thêm những cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí mua máy móc, thiết bị chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm; khuyến khích các hộ chăn nuôi sử dụng chính các sản phẩm trồng trọt tại địa phương để vừa thúc đẩy trồng trọt, vừa góp phần hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi. Bên cạnh đó, người nông dân cũng sẽ được hướng dẫn và chuyển giao quy trình chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGap; tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và mô hình chăn nuôi phù hợp với từng vùng cũng như các biện pháp xử lý chất thải để bảo vệ môi trường.

Bích Phượng

Các tin đã đưa ngày: