Mức tăng trưởng về thu NSNN, thu nội địa trên địa bàn hàng năm sẽ tăng 20% trở lên

04/08/2004
Mức tăng trưởng về thu NSNN, thu nội địa trên địa bàn hàng năm sẽ tăng 20% trở lên
Tổng thu ngân sách của tỉnh ta hàng năm đều tăng, năm sau tăng hơn năm trước. Điều đáng quan tâm là: Thiếu hụt nguồn ngân sách, cần tìm nguồn bù đắp khoảng 160 tỷ đồng ...

MỨC TĂNG TRƯỞNG VỀ THU NSNN, THU NỘI ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN
HÀNG NĂM SẼ TĂNG 20% TRỞ LÊN
(Trả lời chất vấn của cử tri của Giám đốc Sở Tài chính Nguyễn Văn Quốc
tại kỳ họp thứ 2, HĐND tỉnh khóa XIV)


Ý kiến thứ nhất

     Tổng thu ngân sách của tỉnh ta hàng năm đều tăng, năm sau tăng hơn năm trước. Điều đáng quan tâm là: Thiếu hụt nguồn ngân sách, cần tìm nguồn bù đắp khoảng 160 tỷ đồng. Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh làm rõ và có biện pháp để khắc phục tình trạng trên?…"

Đ/c Nguyễn Văn Bình cùng các đồng chí trong Ban VSTBPN tỉnh tặng quà lưu niệm cho các đồng chí có nhiều đóng góp tích cực VSTBPN

     Với nội dung  cử tri yêu cầu: Trước hết cho tôi thay mặt ngành Tài chính xin được trân trọng cảm ơn sự quan tâm của cử tri, của đại biểu HĐND tỉnh và các quý vị đại biểu dự kỳ họp, sự quan tâm này là động lực thúc đẩy công tác tài chính ngân sách tỉnh ta vươn lên quản lý, sử dụng có hiệu quả hơn với mặt bằng ngân sách mà HĐND tỉnh đã quyết định. Để minh chứng cho sự tăng thu NSNN hàng năm mà cử tri đã quan tâm đề cập, tôi xin lược thuật báo cáo cụ thể như sau:

     Năm 1997,  Thu nội địa 110 tỷ đồng, thu thuế XNK, GTGT hàng nhập khẩu không có, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 110 tỷ đồng. Theo thứ tự đó, năm 1998 là 156, 0,170, 156,17; năm 1999 là 200, 169,369; năm  2000 là 256, 349, 605;  năm 2001 là 279, 493, 772; năm 2002 là 347, 1.220, 1.567; năm 2003 là 639, 1.062, 1.702;  Ước năm 2004 là 1.200, 1.000, 2.200.

     Như vậy ý kiến của cử tri nêu thu năm sau cao hơn năm trước là hoàn toàn đúng và khẳng định là tỉnh có tốc độ tăng thu cao của cả nước, từ một tỉnh khi tái lập (1-1-1997) trung ương giao 89 tỷ, kết thúc năm 1997 thực hiện lên 110 tỷ. Đến năm 2004 ước thực hiện tổng thu đạt 2.200 tỷ, tăng 18 lần và tăng 130% so thực hiện năm 2003, trong đó thu nội địa tăng trên 10 lần năm 1997 là 110 tỷ, năm 2004 là 1.200 tỷ. Từ một tỉnh theo tỷ lệ điều tiết của trung ương phải trợ cấp 70% năm 1997 thì năm 2004 thu điều tiết NSĐP đạt 1.067 tỷ, ngân sách tỉnh Vĩnh Phúc điều về ngân sách T.Ư 14% tương ứng 158 tỷ. Như vậy năm 2004 Vĩnh Phúc lại có vinh dự lớn được đứng trong câu lạc bộ thu nội địa đạt trên 1.000 tỷ đồng.

     Chúng ta đều biết, sản xuất phát triển đúng hướng có hiệu quả cao là cơ sở vững chắc cho nền tài chính, nền tài chính vững chắc thì đóng góp thu ngân sách dồi dào, đạt cao. Vì vậy muốn phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội một trong nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là phải đầu tư tài chính ngân sách cho trúng và cho đúng. Vả lại sự quyết đoán trong điều hành kinh tế không có nghĩa là chờ khi có đủ ngân sách, có đủ khả năng tài chính mới thực hiện; mà cái quan trọng là sự thống nhất cao, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đầu tư trúng với chủ trương sẽ sớm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, thì khó khăn phức tạp cũng phải tìm nguồn để đầu tư cho bằng được. Chính vì vậy năm tài chính 2004 ngoài dự toán HĐND tỉnh giao, yêu cầu cân đối đáp ứng nhu cầu bố trí thêm trên 200 tỷ đồng. Những mục tiêu kinh tế - xã hội cần bố trí tăng xin báo cáo cụ thể như sau:

1- Cho vay xây dựng đường quốc lộ 2: 80 tỷ/600 tỷ, đây là con đường huyết mạch của tỉnh, sớm muộn cũng phải xây dựng vì tạo tác động lớn tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

2- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Chấn Hưng theo nghị quyết HĐND tỉnh cho đền bù, san gạt hết 35 tỷ.

3- Giải tỏa đền bù khu vực xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh xây dựng bộ máy huyện mới tái lập 25 tỷ.

4- Thực hiện miễn giảm thuỷ lợi phí vụ đông và 50% thuỷ lợi phí vụ chiêm và vụ mùa tạm tính 10 tỷ.

5- Đền bù xây dựng tôn tạo đền thờ Hai Bà Trưng 8 tỷ.

6- Bù nguồn đã bố trí cho các chương trình mà HĐND tỉnh đã biểu quyết kỳ họp thứ nhất khoá XIV là 23 tỷ.

7- Trả nợ vay đầu tư cứng hoá kênh mương và vay tiền nhàn rỗi Kho bạc đến hạn trả theo khế ước 29,5 tỷ.

8- Đền bù xây dựng Bệnh viện Đa khoa khu vực Mê Linh 5 tỷ.

9- Bố trí thanh toán xây dựng trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh và khu hội nghị là 7 tỷ.

     Chỉ 9 chương trình thôi, số vốn cần bố trí đủ cho năm tài chính 2004 là 224 tỷ, trong khi nguồn ngân sách tăng thêm thực có ngoài tổng nguồn HĐND tỉnh giao trong năm là 66 tỷ gồm:

- Thưởng thuế TTĐB năm 2003 chuyển qua 2004 là 33 tỷ.

- Vượt thu phần ngân sách tỉnh hưởng là (tròn số): 33 tỷ.

Như vậy nguồn còn thiếu là khoảng 160 tỷ.

     Như trong báo cáo của UBND tỉnh số 54 ngày 30-6-2004 trình bày tại kỳ họp này có khẳng định: Đòi hỏi sự điều hành có tính quyết đoán mới hoàn thành được nhiệm vụ đề ra.

     Đúng vậy, với sự đánh giá sát đúng về kinh tế của tỉnh nhà, trong những năm tới, đặc biệt là năm 2005-2006, thời kỳ ổn định của Luật Ngân sách, Vĩnh Phúc sẽ có mức tăng trưởng về thu NSNN, thu nội địa trên địa bàn tăng 20% trở lên mỗi năm.

     Như vậy mỗi năm tăng thu khoảng 150-200 tỷ, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ là tăng thu phải dành 50% thực hiện cải cách tiền lương. Như vậy mỗi năm sẽ có số vượt để điều hành chi khoảng 100 tỷ cho cả 3 cấp ngân sách.

     Với cơ sở tính toán như vậy được Bộ trưởng Bộ Tài chính ủng hộ trên cơ sở phương án kinh tế của UBND tỉnh.

     Ngày 20-6-2004, Bộ trưởng Bộ Tài chính thông báo cho ngân sách tỉnh Vĩnh Phúc vay 145 tỷ đáp ứng các yêu cầu trên và phải trả nợ 2 năm 2005: 70 tỷ, năm 2006: 75 tỷ.

     Với lộ trình trả nợ này và trên cơ sở tính toán như trên, tỉnh ta đủ khả năng thực hiện. Đề nghị HĐND tỉnh xem xét quyết định phương án.

     Cử tri yêu cầu nêu ra biện pháp để khắc phục tình trạng trên, tôi cũng rất tâm đắc ý kiến cử tri cần khắc phục nợ nần dây dưa. Vì vậy, Sở Tài chính xin trình các biện pháp có tính nguyên tắc khắc phục tình trạng xây dựng khi không có nguồn vốn đảm bảo như sau:

1-  Phải có phương án vốn cụ thể được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì các cơ quan chức năng mới duyệt dự án và duyệt dự toán.

2-  Nếu không được phép của cấp duyệt dự án, duyệt dự toán, chỉ tổ chức thực hiện khối lượng tương ứng vốn đã ghi trong năm kế hoạch, không được làm vượt.

3-  Thanh toán tích cực nợ XDCB khi đã có quyết định phê chuẩn quyết toán vốn XDCB của công trình, hạng mục công trình.

4- Các công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành chưa lập hồ sơ quyết toán vốn XDCB đề nghị tạm dừng giao kế hoạch, giao vốn đến khi có quyết toán vốn XDCB.

5- Chấn chỉnh lại quy trình quản lý, cấp phát, giám sát thi công và quyết toán vốn XDCB đi liền với biện pháp hành chính cần thiết.

ý kiến thứ hai

"… Đề nghị HĐND tỉnh xem xét việc sử dụng nguồn 25% đất thương phẩm, nên có sự đầu tư trở lại một  cách thỏa đáng cho huyện và cơ sở. Nên có nghị quyết riêng về nội dung này. Đề nghị hỗ trợ cho huyện 100%…?"

     Về vấn đề này với quan điểm của Sở Tài chính, tôi xin báo cáo HĐND tỉnh và cử tri một số cơ sở để nghiên cứu xem xét như sau:

1. Theo số liệu tính toán của các cơ quan, Ban quản lý các khu công nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư… đến 30-4-2004 có 8 dự án, số dự kiến theo quỹ đất thương phẩm 25% là 665 tỷ, trong đó tiền sử dụng đất là 115 tỷ.

Như vậy thực tế 25% quỹ đất thương phẩm là 550 tỷ.

2. Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Ban quản lý các khu công nghiệp và thu hút đầu tư tỉnh cùng Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư mời các dự án lên tỉnh làm việc. Sau gần 1 tuần trực tiếp làm việc thì các dự án chỉ chấp nhận là 146 tỷ. Như vậy chênh lệch âm so dự kiến gần 410 tỷ.

3. Về sự thực, sau khi thống nhất giữa tỉnh và các dự án, Ban quản lý các khu công nghiệp và thu hút đầu tư tỉnh đi ký cam kết, thì chỉ ký được 86 tỷ.

     Đến hôm nay các ngành đã trình UBND tỉnh và hướng dẫn cho các dự án nộp tiền vào ngân sách thì chưa dự án nào nộp tiền cho tỉnh, vì 2 nguyên nhân như sau:

- Các dự án cũng không có nguồn tài chính sẵn có mà họ phải đi vay để nộp cho tỉnh (theo dự án trình bày).

- Các dự án mới bắt đầu triển khai dự án hoặc triển khai rồi phải vài ba năm sau mới hoàn thành xây dựng.

     Theo quy định của tỉnh khi xây dựng hoàn thành có sản phẩm mới trả cho tỉnh 25%. Vì vậy các dự án chưa nộp tiền cho tỉnh.

     Từ tình hình trên, trong thực tại khách quan thì Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành cơ chế đầu tư vào khu kinh tế trọng điểm Mê Linh (nay là 2 huyện, thị), vì vậy mà UBND tỉnh đang thực hiện chủ trương này. Theo số tổng hợp của Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ năm 2001 - 2004, tỷ trọng đầu tư 20% vào Mê Linh tương ứng 160 tỷ, cao nhất so các huyện (5 - 7 - 8%), chưa kể dự án nước. Như vậy chúng ta đang thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Tỉnh uỷ một cách tích cực, trong khi chưa thu được đồng nào của quỹ đất thương phẩm.

     Từ thực tại trên, xin đề nghị cử tri và HĐND tỉnh nghiên cứu xem xét. Riêng Sở Tài chính đề nghị không ra nghị quyết hỗ trợ 100% tiền đất thương phẩm với sự trình bày trên.

(Tin, ảnh) TTH
Báo VP

Các tin đã đưa ngày: