Vĩnh Phúc: hộ nghèo giảm mạnh nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật

26/07/2004
Từ khi dự án được triển khai, trình độ quản lý và chỉ đạo sản xuất của các cán bộ được nâng lên, người dân đã thay đổi hẳn tập quán canh tác cũ chuyển sang áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đời sống người dân được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 12%, không còn hộ đói.

Vĩnh Phúc:

Hộ nghèo giảm mạnh nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật

                                

    hỉ vài năm trước đây, xã miền núi Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn là một xã có số hộ đói nghèo chiếm tới trên 40%, thu nhập bình quân lương thực đầu người đạt 256 kg/năm, thấp nhất so với toàn tỉnh. Năm 2000, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã thực hiện xây dựng dự án ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi nhằm nâng cao mức sống cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo tại xã Sơn Lôi. Từ khi dự án được triển khai, trình độ quản lý và chỉ đạo sản xuất của các cán bộ được nâng lên, người dân đã thay đổi hẳn tập quán canh tác cũ chuyển sang áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đời sống người dân được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 12%, không còn hộ đói.

        Xã Sơn Lôi có tổng diện tích đất tự nhiên là 911 ha, trong đó đất nông nghiệp 574 ha, đất ao hồ 4,9 ha, đất đồi núi trọc còn 62 ha, đất chuyên dùng 277 ha. Là xã có nhiều đồng bào dân tộc như Dao, Tày, Cao Lan cùng chung sống, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu sản xuất nông nghiệp, không có nghề phụ.

        Năm 2000, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã thực hiện xây dựng dự án ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi tại xã Sơn Lôi. Dự án được triển khai xây dựng 3 mô hình đó là: Thâm canh lúa và một số cây hoa mầu có năng suất chất lượng cao bằng các giống mới nhằm đưa năng suất các giống cây trồng tăng gấp hai lần so với các giống cũ; đưa các giống vịt, lợn, bò, cá có năng suất cao để thay thế và cải tạo các giống cũ tại địa phương; đưa các giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như xoài, nhãn vải, hồng, đu đủ để cải tạo và phủ xanh toàn bộ diện tích đất trống đồi núi trọc.

        Trong trồng trọt, dự án đưa các giống lúa Khang dân 18, Nhị ưu 63, giống 98-20 thí điểm trên diện tích 30 ha, kết quả cho thấy giống lúa Kháng dân 18 có năng suất đạt 5,96 tấn/ha, nhiều hộ đạt 6,9 tấn/ ha, rất phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng trên địa bàn toàn xã, hiện nay, trên 90% diện tích trồng lúa được giao trồng bằng giống KD18; Các giống ngô lai mới LVN4, LNN24 cho năng suất 5,75 tấn/ha, cao hơn các giống cũ từ 20-30%, có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh tốt, hiện nay các giống ngô mới này đang được triên khai trên diện rộng và trở thành giống cây trồng chủ lực ở vụ Đông; Đặc biệt các giống lạc L14, L15, được áp dụng bằng công nghệ che phủ nilong đạt năng suất trên 3,0 tấn/ha cao gấp hai lần so với giống cũ; Giống đậu tương DT84 được áp dụng phương pháp canh tác mới đã cho năng suất tăng gấp 3 lần so với giống cũ.

        Trong chăn nuôi, dự án cung cấp 1.200 giống CV2000 và Khalicampell siêu thịt, siêu trứng cho 40 hộ nông dân triển khai thử nghiệm, đã cho năng suất đạt trên 100 quả trứng/con/năm (giống thường chỉ đạt 60-70 quả/con/năm), trọng lượng mỗi con từ 3,5-4 kg, hiện nay toàn xã đã có trên 100 hộ phát triển chăn nuôi vịt, với tổng đàn lên đến hàng chục ngàn con. Bên cạnh đó, dự án đã cung cấp 4 con bò giống lai Sind, giúp xã tự nhân giống cải tạo đàn bò cọc tại địa phương, đến nay tổng đàn bò được Sind đã nâng lên 60%. Đồng thời, dự án cấp 60 con lợn giống Móng cái, hỗ trợ thức ăn chăn nuôi giúp các hộ nghèo phát triển sản xuất, hiện đàn lợn đang sinh trưởng và phát triển tốt, nhiều hộ đã mở rộng quy mô phát triển lên 30-40 con/ lứa.

        Ngoài ra, dự án đã cung cấp trên 30.000 gốc vải, nhãn, xoài, đu đủ các hộ vùng cao trồng trên toàn bộ diện tích đất trống đồi núi trọc, bước đầu cho thu hoạch đạt giá trị kinh tế cao, nhiều hộ đã cho thu nhập từ 20 đến 30 triệu đồng từ mô hình chuyển đổi này.


(Theo Nông nghiệp - Nông thôn Việt Nam)

Các tin đã đưa ngày: