Xây dựng thương hiệu rau an toàn Vĩnh Phúc

08/04/2006
Xây dựng thương hiệu rau an toàn Vĩnh Phúc
Năm 2004, Chi cục BVTV tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học "Xây dựng thương hiệu cho rau an toàn của Vĩnh Phúc". Đề tài được Hội đồng khoa học tỉnh tuyển chọn đưa vào thực hiện, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt.

    
Dưa chuột Thái Lan năng xuất cao được nhiều hộ nông dân ở xã An Hòa (Tam Dương) gieo trồng

     Năm 2004, Chi cục BVTV tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học "Xây dựng thương hiệu cho rau an toàn của Vĩnh Phúc". Đề tài được Hội đồng khoa học tỉnh tuyển chọn đưa vào thực hiện, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt.

     Sản phẩm rau an toàn được xem như một loại thực phẩm không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người. Đặc biệt khi lương thực và các thức ăn giàu đạm được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ

     Sản phẩm rau được coi là an toàn phải đáp ứng yêu cầu sau: Một là, sạch bụi bẩn, tạp chất, tươi, hấp dẫn về hình thức. Thu hoạch đúng độ chín khi có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh; bao bì bảo quản có mẫu mã đẹp, phù hợp với loại rau.

     Hai là, không chứa các dư lượng vượt ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn vệ sinh y tế như: dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; dư lượng nitrat (NO3), dư lượng kim loại nặng và vi sinh vật gây hại. Yêu cầu thứ hai phụ thuộc vào môi trường canh tác và kỹ thuật trồng trọt là yếu tố quyết định rau có an toàn hay không.

     Đề tài chọn ba vùng sinh thái rau của 3 huyện, thị xã để thực hiện 50 ha cho 10 loại rau tiêu biểu như: Tích Sơn (Vĩnh Yên), Vĩnh Sơn (Vĩnh Tường), Đại Thịnh (Mê Linh). Các giống rau được chọn là: hành tây, hành lá, xu hào, bắp cải, cải canh, cà chua, cà ghém, bầu bí, dưa chuột, đậu đỗ.

     Việc xây dựng quy trình sản xuất rau an toàn và quy hoạch vùng sản xuất rau căn cứ vào điều kiện môi trường, tập quán canh tác của từng vùng. Tuy nhiên, để có rau an toàn phải tuân thủ các quy định theo một quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn tại Quyết số 1208 KHCN/QĐ ngày 15 tháng 7 năm 1996 của Bộ NN&PTNT. Đất trồng rau phải cao, thoát nước nhanh khi mưa kéo dài, chọn loại đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-30cm. Vùng đất trồng rau cách xa các khu công nghiệp có chất thải độ hại và bệnh viện 2km, cách khu vực có chất thải sinh hoạt của thành phố 200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nặng nhưng không được tồn dư hóa chất độc hại.

     Nước tưới ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm vì trong rau xanh nước chiếm tới 90%. Cần phải sử dụng nước sạch để tưới, tốt nhất là nước ngầm lấy từ các giếng khoan, giếng đào. Nếu nước tưới được lấy từ sông, ao, hồ phải là những nguồn nước không bị ô nhiễm. Đối với các loại rau cho quả giai đoạn đầu có thể sử dụng nước bơm từ mương, sông hồ, ao vào các rãnh của luống rau.

     Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khỏe mạnh không có mầm bệnh, phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật. Hạt giống trước khi gieo cần được xử lý hóa chất hoặc nhiệt. Đối với cây con trước khi trồng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng trừ bệnh hại về sau.

     Phân chuồng ủ hoai mục mới được sử dụng để bón rau, bón lót bằng phân hữu cơ vi sinh. Tùy mỗi loại rau có chế độ bón và lượng phân bón khác nhau. Trung bình để bón lót cần 15 tấn phân chuồng + 300kg lân hữu cơ vi sinh cho một ha rau. Lượng phân hóa học cần cho bón lót 30%N + 50%K. Số đạm và kali còn dùng để bón thúc. Những loại rau có thời gian sinh trưởng dưới 60 ngày cần bón thúc 2 lần, kết thúc bón trước khi thu hoạch 7 - 10 ngày. Các loại rau có thời gian sinh trưởng dài ngày bón thúc 3 - 4 lần, thúc thúc bón phân hóa học 10 - 12 ngày trước khi thu hoạch. Sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng ngay khi rau mới bén rễ, phun 3 - 4 lần tùy loại rau, kết thúc phun trước khi thu hoạch 5 - 10 ngày. Khi sử dụng phân bón lá thì giảm lượng phân hóa học 30 - 40%. Không được sử dụng phân tưới và nước phân pha loãng để tưới cho rau.

     Không sử dụng thuốc hóa học BVTV nhóm I, II, khi thật cần thiết, có thể sử dụng thuốc nhóm III và IV, chọn loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với các loài ký sinh thiên địch, kết thúc phun thuốc trước khi thu hoạch 5 - 10 ngày. Nên sử dụng chế phẩm trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc như hạt củ đậu, áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM, dùng bẫy sinh học trừ bướm, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện sâu bệnh.

     Khi thu hoạch rau quả an toàn cần phải đúng độ chín, chọn bỏ những lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng. Rau quả cần được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo nước rồi cho vào bao đựng sạch sẽ trước khi đem tiêu thụ tại các cửa hàng rau an toàn. Trên bao bì có gắn nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký bảo hộ mang thương hiệu của nơi sản xuất và kinh doanh, có phiếu bảo hành sản phẩm để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.

     Việc "xây dựng thương hiệu rau an toàn" không chỉ đơn thuần là xác định một cái tên cho rau mà cần làm cho thương hiệu có uy tín rộng rãi không những ở trong tỉnh, trong nước mà phải vươn đến các thị trường ngoài nước.

                                                                                             Nghiêm Xuân Thịch
                                                                                                 (Sở KH&CN)

Các tin đã đưa ngày: