Thay đổi tư duy, hướng tới sản xuất lúa gạo bền vững

15/10/2021

Ngay khi tái lập tỉnh năm 1997, với phương châm “giảm đóng góp, tăng đầu tư, phát triển nông thôn toàn diện”, Vĩnh Phúc luôn đi đầu cả nước về các chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp nói chung và ngành lúa gạo nói riêng. Các chính sách đã góp phần quan trọng vào đổi mới tư duy, cách tổ chức sản xuất của người nông dân, từ đó, không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn hướng tới sản xuất lúa gạo bền vững.

Đột phá thay đổi cơ cấu giống lúa

Vụ Mùa năm nay, nông dân Vĩnh Phúc tiếp tục được mùa, mặc dù thời tiết bất thuận. 

Ông Lê Văn Dũng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, người tâm huyết, gắn bó nhiều năm với ngành Nông nghiệp khẳng định: Giống tốt, chống chịu sâu bệnh, điều kiện bất thuật của thời tiết cộng với kỹ thuật canh tác nhuần nhuyễn của nông dân đã giúp những cánh đồng lúa của tỉnh nhiều năm bội thu, góp phần bảo đảm an ninh lương thực của tỉnh, nhất là trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch Covid-19. Điều đó khẳng định các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh đã tạo sự chuyển dịch rất lớn cơ cấu giống lúa ở các địa phương, tạo tiền đề cho hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng thương hiệu gạo của tỉnh.

Cán bộ kỹ thuật của Tập đoàn Quế Lâm kiểm tra năng suất lúa sản xuất theo hướng hữu cơ
tại xã Hồ Sơn, Tam Đảo

Những năm đầu khi mới tái lập, năng suất lúa của tỉnh chỉ đạt 34,2 tạ/ha, sản lượng lương thực có hạt đạt 20,4 vạn tấn. Thời điểm đó, thời vụ gieo cấy lúa chủ yếu của tỉnh gồm: Xuân sớm, chính vụ, xuân muộn với các giống chủ lực: CN2, CR203, Bao thai, Mộc tuyền có thời gian sinh trưởng dài, sức chống chịu sâu bệnh kém, thường bị rủi ro về thời tiết. Giờ đây, vẫn đồng đất ấy, những giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng gạo khá và chống chịu tốt với sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh bất thuận như: TBR 25, Thiên ưu 8, ADI 28, DT 39 Quế Lâm, Sơn Lâm 2, DQ 11, Hà Phát 3, ĐT 100 đã được nông dân đưa vào sản xuất chiếm 70% tổng diện tích toàn tỉnh; tỷ lệ lúa xuân muộn, lúa mùa sớm chiếm đến 98% trà lúa chủ lực của tỉnh.

Một trong những đột phá thay đổi cơ cấu giống lúa của tỉnh giai đoạn 2013-2020 là tỉnh đã hỗ trợ gần 100 nghìn ha diện tích gieo cấy các giống lúa chất lượng phù hợp với điều kiện canh tác ở các địa phương như: Thiên ưu 8, RVT, HT1, TH3-3, BC 15, TBR 225, ADI 28 theo Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp. Riêng vụ Đông Xuân 2020- 2021, tỉnh hỗ trợ gần 700 tấn lúa thuộc chương trình hỗ trợ giống lúa chất lượng phục vụ cho tái cơ cấu nông nghiệp; cung ứng 270 tấn lúa giống cho 39 xã thuộc chương trình trợ cước, trợ giá giống lúa phục vụ các xã miền núi; triển khai xây dựng nhiều mô hình trình diễn giống lúa mới, sản xuất lúa hữu cơ trên giống DT39 Quế Lâm của Tập đoàn Quế Lâm; khuyến khích doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất với nông dân, mở rộng diện tích lúa chất lượng, sản xuất theo quy trình VietGAP... tạo nên cuộc cách mạng về chuyển đổi cơ cấu giống lúa chất lượng trên địa bàn tỉnh, làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của người nông dân theo tư duy sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường.

Là huyện có truyền thống thâm canh lúa, Yên Lạc đã tạo nên sự bứt phá về năng suất lúa vụ Xuân 2021 đạt gần 69 tạ/ha, cao nhất tỉnh. Để nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo, từ năm 2015 đến nay, huyện đã chuyển đổi hàng nghìn ha các giống lúa năng suất thấp, chất lượng gạo kém như: KD18, Q5… sang các giống lúa năng suất, chất lượng; hướng dẫn nông dân áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ, tạo ra các sản phẩm lúa gạo chất lượng, an toàn, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn huyện.

Từ cuộc cách mạng chuyển đổi cơ cấu giống lúa chất lượng của tỉnh, đến nay, nhiều giống lúa mới có năng suất, chất lượng như: RVT, QR1, Thiên ưu 8, TBR 25, ADI 28, DT 39 Quế Lâm... nhanh chóng được nông dân đưa vào sản xuất, hình thành các vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao ở các huyện: Yên Lạc, Vĩnh Tường, Bình Xuyên, Tam Dương, Sông Lô. Nhờ vậy, những năm gần đây, mặc dù diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp chuyển sang xây dựng khu công nghiệp, hạ tầng giao thông, dịch vụ nhưng năng suất lúa vụ xuân liên tục xác lập những kỷ lục mới với 59,83 tạ/ha, 60,33 tạ/ha, 62,53 tạ/ha vào các năm 2011, 2014, 2021. Hiện nay, diện tích giống lúa chất lượng của tỉnh chiếm hơn 70% tổng diện tích gieo cấy; diện tích trồng lúa KD 18 giảm còn dưới 25%. Thành quả ấy khởi nguồn từ sự thay đổi về tư duy sản xuất hàng hóa theo hướng chất lượng của người nông dân đã ngày càng được khẳng định.

Thay đổi tư duy sản xuất

Song hành với việc phát triển sản xuất hàng hóa thông qua thay đổi cơ cấu giống lúa, được sự hỗ trợ của tỉnh, những năm qua, nông dân trong tỉnh đã từng bước thay đổi phương thức canh tác, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năng suất, sản lượng, hướng tới các sản phẩm vì sức khỏe con người và bảo vệ môi trường.

Một trong những điểm nhấn quan trọng trong chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng hàng hóa của tỉnh là việc hỗ trợ đưa cơ giới hóa vào sản xuất. Chỉ tính riêng giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh đã hỗ trợ nông dân và các hợp tác xã hơn 1 nghìn máy làm đất, 36 máy cấy và gần 90 máy gặt đập liên hợp. Qua đó, khuyến khích nông dân đưa cơ giới hóa vào sản xuất, từng bước xóa bỏ phương thức sản xuất “con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Theo ông Nguyễn Hoàng Dương, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh: Đến nay, tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở khâu làm đất đã đạt trên 90%, khâu thu hoạch là trên 80%. Ngoài ra, tỉnh đang đẩy mạnh chương trình hỗ trợ sản xuất mạ khay cấy máy, hằng năm, diện tích lúa cấy bằng máy đạt trên 1.000 ha.

Vẫn là không khí nhộn nhịp mỗi mùa thu hoạch, thế nhưng thay vì cảnh phải còng lưng gặt từng khóm lúa của nhiều năm về trước, trên các cánh đồng vụ Mùa 2021, nhờ có máy gặt đập liên hợp, bà con nông dân có thể thảnh thơi ở trên bờ, đợi máy gặt xong, đóng thành từng bao chở lên tới bờ là có thể mang về. Bên những tải lúa vừa gặt xong, chị Trần Thị Ngọc Anh, xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường chia sẻ: “Nhà tôi có gần 1 mẫu ruộng, đều cấy lúa. Nếu không có máy, mà gặt thủ công thì không thể làm nhanh được. Trước đây, mỗi vụ gặt, vừa nhờ anh em rồi thuê mướn cũng phải mất từ 7 -10 ngày mới xong. Nhưng nay có máy gặt, chỉ 2 -3 buổi là xong hết”.

Không chỉ giải phóng sức lao động, việc áp dụng cơ giới hóa còn góp phần quan trọng giảm chi phí sản xuất, giảm thời gian canh tác, đáp ứng kịp thời công tác chuyển vụ, gối vụ và là tiền đề quan trọng để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Tất nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nhu cầu về các sản phẩm bảo đảm an toàn ngày càng cao, để thúc đẩy phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng hàng hóa thì việc nâng cao năng suất, sản lượng không thôi hẳn chưa thể đủ. Những năm gần đây, ngành Nông nghiệp đã liên kết với một số doanh nghiệp, đơn vị liên quan phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng sản xuất sạch, an toàn, chất lượng cao. Ông Lê Văn Dũng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhấn mạnh: “Đây là hướng đi tất yếu, bền vững của ngành Nông nghiệp trong tương lai và hướng tới mục tiêu xây dựng thương hiệu gạo Vĩnh Phúc và xuất khẩu”.

Là 1 trong những đơn vị tiên phong làm nông nghiệp hữu cơ, đến năm 2021, Tập đoàn Quế Lâm đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh và một số địa phương triển khai canh tác lúa hữu cơ trên địa bàn tỉnh với diện tích trên 200 ha tại các xã: Tân Phong, Phú Xuân, huyện Bình Xuyên; Yên Phương, huyện Yên Lạc. Qua thực tế, các mô hình đều cho kết quả tốt với năng suất bình quân đạt 60,63 tạ/ha. Hạch toán hiệu quả kinh tế vụ Xuân 2021 cho thấy, trung bình mỗi ha canh tác lúa hữu cơ thu 60 triệu đồng, trừ chi phí người nông dân còn lãi 32,4 triệu đồng/ha.

Để hiểu hơn về lợi ích của hướng canh tác mới này, xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên đã triển khai mô hình sản xuất lúa hữu cơ được 4 vụ, với diện tích 20 ha/vụ. Khác với sản xuất đại trà, thay vì sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, trong quá trình chăm sóc, người trồng lúa hữu cơ chỉ sử dụng các loại phân hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh, thuốc sinh học và thảo mộc kèm theo đó là áp dụng các biện pháp cải tạo đất, chế độ nước tưới khoa học, phù hợp với nhu cầu phát triển của cây lúa qua từng thời kỳ.

Chia sẻ với chúng tôi về hiệu quả của phương pháp trồng lúa hữu cơ, ông Đặng Văn Tắc, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Tân Phong cho biết: “Qua 4 vụ triển khai, chúng tôi nhận thấy việc trồng lúa theo hướng hữu cơ có nhiều ưu điểm nổi bật. Trước hết giảm thiểu được sâu bệnh hại, hạn chế được tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Bà con yên tâm sử dụng lúa gạo sạch. Không chỉ vậy, đồng đất ngày càng màu mỡ, tơi xốp, năng suất lúa cũng đạt cao hơn so với sản xuất theo hướng đại trà”. Với những ưu điểm mà phương thức canh tác mới này mang lại, hợp tác xã đang đề xuất tỉnh, huyện hỗ trợ địa phương nhân rộng diện tích lúa hữu cơ, phấn đấu năm 2022, diện tích lúa hữu cơ trên địa bàn xã đạt từ 30 - 40 ha/vụ.

Ông Khắc Ngọc Bá, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Quế Lâm khẳng định, mô hình hợp tác xã liên kết sản xuất lúa gạo hữu cơ theo chuỗi giá trị của Tập đoàn Quế Lâm cho kết quả tốt đã tạo sự lan tỏa đến nhiều địa phương. Số nông dân tham gia, đồng hành với Tập đoàn sản xuất theo hướng hữu cơ ngày càng tăng lên đáng kể. Với quá trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ bài bản, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã tạo ra sản phẩm lúa gạo sạch, an toàn được người tiêu dùng đánh giá cao.

Các chính sách hỗ trợ cùng giải pháp đồng bộ của tỉnh đã đem lại những thay đổi tích cực trong tư duy sản xuất lúa gạo của bà con nông dân, không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hướng tới mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ an toàn, bền vững và hiệu quả, qua đó góp phần bảo vệ môi trường xanh- sạch, nâng cao thu nhập cho người sản xuất.

Mai Liên

 

Các tin đã đưa ngày: