Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013

17/02/2014

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

a. Sản xuất nông nghiệp

* Trồng trọt:

+ Cây hàng năm:

- Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm dự kiến đạt 96,05 ngàn ha, bằng 99,02% kế hoạch năm và tăng 3,53% so với năm 2012, chủ yếu do tăng diện tích gieo trồng cây vụ đông. Diện tích một số cây trồng chính như sau: cây lúa 59,03 ngàn ha, đạt 99,55% kế hoạch năm, giảm 0,47% với năm 2012; ngô 15,81 ngàn ha, đạt 121,64% kế hoạch, tăng 15,63% so với năm 2012; nhóm cây lấy củ có chất bột 4,54 ngàn ha, giảm 2,30%, trong đó chủ yếu là cây khoai lang 2,49 ngàn ha (giảm 2,60%), cây sắn 1,94 ngàn ha (giảm 2,4,%)...; nhóm cây có hạt chứa dầu 6,14 ngàn ha, giảm 1,51%, trong đó cây đậu tương đạt 2,68 ngàn ha, cây lạc đạt 3,42 ngàn ha; rau các loại 7.718,3 ha, tăng 19,78% so với năm 2012.

- Năng suất, sản lượng một số cây trồng chính: lúa đạt 52,30 tạ/ha, tăng 3,46% so với năm 2012, sản lượng đạt 308,76 ngàn tấn, tăng 2,99%; ngô đạt 41,31 tạ/ha, tăng 1,25%, sản lượng đạt 65,32 ngàn tấn, tăng 17,08%; khoai lang đạt 97,54 tạ/ha, tăng 6,0%, sản lượng đạt 24,32 ngàn tấn, tăng 3,25%; đậu tương đạt 16,52 tạ/ha, tăng 3,83%; Sản lượng 4,43 ngàn tấn, giảm 3,36%; lạc đạt 18,03 tạ/ha, giảm 5,35%, sản lượng đạt 6,17 ngàn tấn, giảm 2,71%; rau các loại đạt 181,84 tạ/ha, tăng 8,08%, sản lượng đạt 140,35 ngàn tấn, tăng 29,46% ...

+ Cây lâu năm: Tổng diện tích hiện có 8,23 ngàn ha, tăng 0,49% so với năm 2012. Trong đó, diện tích các loại cây ăn quả là 7,67 ngàn ha, giảm 0,15% so với năm 2012 và chiếm 93,23% diện tích các loại cây lâu năm. Năm 2013 diện tích cây ăn quả giảm là do các hộ chuyển đổi mục đích sử dụng đất, làm đường giao thông.... Diện tích cây ăn quả có nhiều ở các huyện: Lập thạch, Sông Lô, Tam dương, Tam Đảo ... đây là các huyện có nhiều diện tích vườn, diện tích lâm nghiệp nên các hộ đã tận dụng trồng cây ăn quả. Các loại cây ăn quả có diện tích tăng so với 2012 là Thanh long 117,9 ha, tăng 129,38%, diện tích chủ yếu ở huyện Lập Thạch do có chương trình hỗ trợ trồng cây Thanh long ruột đỏ nên diện tích được các hộ mở rộng; cây Na 284 ha, tăng 8,19% đây là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế và có thế mạnh ở các huyện Tam Đảo, Lập Thạch... Nhìn chung, cây ăn quả của Vĩnh Phúc chủ yếu vẫn là những loại cây phổ biến, dễ trồng, dễ chăm sóc và phù hợp với điều kiện thời tiết như: Vải 2,17 ngàn ha, chiếm 28,32% diện tích cây ăn quả; chuối 1,63 ngàn ha, chiếm 21,28%; nhãn 758 ha, chiếm 9,89%; xoài 704 ha, chiếm 9,18% tổng diện tích cây ăn quả trên địa bàn tỉnh...

* Chăn nuôi: Năm 2013, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không xảy ra những dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh. Tuy nhiên, một số bệnh khác trên đàn gia súc, gia cầm như tụ huyết trùng trâu, bò, lợn; hội chứng tiêu chảy ở vật nuôi; Niu cát xơn, tụ huyết trùng, Gumbôrô, thương hàn, dịch tả vịt…vẫn xảy ra lẻ tẻ. Số lượng vật nuôi mắc ít, được xử lý kịp thời nên không tạo thành ổ dịch.

Số lượng đầu gia súc, gia cầm tại thời điểm 01/10/2013 như sau: Đàn trâu 21,46 nghìn con, tăng 0,10% với cùng thời điểm năm 2012; đàn bò 95,46 nghìn con, tăng 1,48%; đàn lợn 498,55 nghìn con, tăng 3,84%; đàn gia cầm 9,11 triệu con, tăng 6,29%. Sản lượng sản phẩm chăn nuôi nhìn chung đều tăng so năm trước: Thịt trâu 2.000 tấn, tăng 4,82%; thịt lợn hơi xuất chuồng 67,23 ngàn tấn, tăng 3,41%; sản lượng thịt gà 20,76 ngàn tấn, tăng 8,40%; trứng gà 278 triệu quả, sữa bò tươi 7,47 ngàn tấn, mật ong 77,2 tấn...

b. Sản xuất lâm nghiệp:

 Năm 2013, các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh và các địa phương trồng mới 844 ha rừng tập trung, đạt 80,3% kế hoạch năm và tăng 1,75% so với năm trước. Trong đó: rừng sản xuất 830 ha, đạt 80% kế hoạch năm; rừng đặc dụng 14 ha, đạt 100% kế hoạch năm. Công tác chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có được đảm bảo và duy trì. Năm 2013, các đơn vị đã hoàn thành chăm sóc 592 ha rừng, đạt 100% kế hoạch và giảm 37,47%  so với năm 2012, do giao kế hoạch chăm sóc rừng giảm. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 9.522 ha, đạt 100% kế hoạch năm và tăng 68,52% so với năm 2012.

c. Sản xuất thuỷ sản:

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2013 đạt 6.926 ha, bằng 98,74% kế hoạch năm và giảm 0,81% so với năm 2012. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu là nuôi cá và ươm giống thuỷ sản. Một số hộ nuôi trồng giống thuỷ sản khác có giá trị cao như: Ba ba, ếch và cá sấu, tuy nhiên số lượng nuôi trồng ít và nhỏ. Đầu tháng Tám xảy ra cơn bão số 5 và số 6 gây mưa to, đầu tháng Chín tiếp tục có mưa kéo dài trong 3 ngày đã làm nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản bị ngập tràn, trong đó các huyện bị ảnh hưởng nhiều: Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Vĩnh Tường,... Các hộ nuôi trồng thủy sản đã tích cực khắc phục hậu quả để hạn chế thiệt hại. Sản lượng thuỷ sản cả năm dự kiến đạt 18.520 tấn, tăng 3,27% so với năm trước. Trong đó, cá 17.142 tấn, tôm 84 tấn, thuỷ sản khác 1.294 tấn. Thuỷ sản nuôi trồng ngày càng phong phú và đa dạng về chủng loại đã giúp cho ngành thuỷ sản nâng cao được giá trị cũng như đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013 tăng 14,04% so với năm 2012 . Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 49,31%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,93%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 16,54%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 17,73%. Các ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với năm 2012 là: ngành dệt tăng 144,03%; ngành sản xuất sản phẩm điện tử tăng 120,52%; ngành công nghiệp khai khoáng khác tăng 49,31%; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 49,03%...

Chỉ số tiêu thụ sản phẩm toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mười một tháng đầu năm 2013 tăng 22,27% so cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ sản phẩm tăng cao là: ngành dệt tăng 77,68%; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 50,54%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 20,34%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ sản phẩm mười một tháng đầu năm tăng thấp là:  ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,65%; ngành sản xuất trang phục tăng 12,06%; ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 6,29%; .

3. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2013 tiếp tục tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 10,07% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân cả năm tăng 7,93%.

Giá vàng tháng 12 năm 2013 trên địa bàn tỉnh giảm khá. Chỉ số giá trong tháng giảm 3,18% so với tháng trước theo mức giảm chung cả nước. Giá vàng bình quân trên thị trường tự do là 3.284 nghìn đồng/chỉ. Giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do giảm nhẹ so với tháng trước, giá bán bình quân phổ biến ở mức 21.125 đồng/USD.

4. Đầu tư, xây dựng

Kết quả, năm 2013 số dự án thu hút (FDI, DDI) tăng cao so với năm 2012 và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể, đã thu hút 42 dự án, trong đó gồm 21 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 314,8 triệu USD tăng 3,5 lần về số dự án và 206% về số vốn đăng ký so với năm 2012, đạt 157% kế hoạch; và 21 dự án DDI với 6.247 tỷ đồng vốn đăng ký, bằng 95% về số dự án và tăng 3,34 lần về vốn đăng ký so với năm 2012, đạt 416% kế hoạch đề ra. Luỹ kế đến hết năm 2013 toàn tỉnh có 675 dự án còn hiệu lực, gồm 137 dự án FDI với tổng vốn đầu tư là 2.767,6 triệu USD và 538 dự án DDI với tổng vốn đầu tư 31.727 tỷ đồng. 

- Tình hình phát triển hạ tầng các khu công nghiệp: Chỉ đạo quyết liệt trong thu hồi đất ở KCN Bình Xuyên IIKCN Bá Thiện. Kết quả, đã thu hồi 421,3/485,1 ha ở KCN Bình Xuyên II và 227/327 ha ở KCN Bá Thiện; đồng thời giao cho Ban Quản lý các Khu công nghiệp quản lý phần diện tích đã thu hồi để giải quyết cho những doanh nghiệp có nhu cầu thuê đất, thuê hạ tầng.

Công tác bồi thường GPMB Khu công nghiệp Tam Dương II được triển khai tích cực. Đã lựa chọn được đơn vị thực hiện dự án đầu tư và kinh doanh hạ tầng; đến nay đã thu hút được 02 dự án đầu tư DDI, với số vốn đăng ký đầu tư là 4.266 tỷ đồng.

- Thu hút các dự án ODA: UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thúc đẩy mạnh mẽ công tác kêu gọi, vận động các dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi, coi đây là nguồn vốn quan trọng góp phần phát triển cơ sở hạ tầng của tỉnh theo Quy hoạch chung đô thị, Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

5. Tài chính, tín dụng

Hoạt động ngân hàng đã được cải thiện. Dự kiến năm 2013, tổng nguồn vốn huy động tăng 22,2% so với cuối năm 2012, lãi suất cho vay giảm mạnh (giảm khoảng 3-5%/năm, trở về mức lãi suất giai đoạn 2005-2006, thấp hơn năm 2007), hiện lãi suất cho vay phổ biến cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh khoảng 9-10%/năm đối với ngắn hạn, 11-12%/năm đối với trung và dài hạn; riêng đối với 5 lĩnh vực ưu tiên còn 8-9%/năm; các khoản vay cũ lãi suất được giảm xuống dưới mức 15%/năm.

6. Cân đối thương mại

Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2013 dự kiến đạt 1.715,4 triệu USD, tăng 0,15% so với năm trư­ớc. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 162,5 triệu USD, giảm 4,12%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.552,9 triệu USD, tăng 0,62%. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị hàng nhập khẩu. Cơ cấu giá trị hàng nhập khẩu có sự thay đổi đáng kể, các nhóm hàng nhập khẩu có giá trị tăng cao so năm trước đáng chú ý là: hàng điện tử tăng 2,14 lần; vải may mặc tăng 1,3 lần; sắt thép tăng 66,75%; Các nhóm hàng nhập khẩu có giá trị giảm so năm trước đáng chú ý: nguyên phụ liệu sản xuất thuốc tân dược  giảm 64,3%; ô tô các loại (kể cả linh kiện đồng bộ) giảm 45,17%; xe máy các loại (kể cả linh kiện đồng bộ) giảm 45,82%.

7. Dân số, lao động, việc làm

Dân số bình quân toàn tỉnh năm 2013 dự kiến là 1.027.000 người, tăng 0,63% so với năm 2012. Trong đó, dân số thành thị là 241.500 người chiếm 23,52% tổng số dân và tăng 1,34%; dân số nông thôn là 785.500 người tăng 0,41%; dân số trong độ tuổi lao động là 675.000 người, tăng 0,52% so với năm 2012. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế đạt 620.400 người, tăng 0,15%. Trong đó, lao động đang làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 311.000 người chiếm 50,13% tổng số và giảm 3,36%; ngành công nghiệp, xây dựng là 156.500 người chiếm 25,23% tổng số và tăng 1,10%; các ngành dịch vụ là 152.900 người, chiếm 24,64% tổng số và tăng 7% so với năm 2012.

Lao động, việc làm và dạy nghề được UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo với nhiều giải pháp cụ thể, trong đó tập trung đẩy mạnh hoạt động sàn giao dịch việc làm, đẩy mạnh chương trình xuất khẩu lao động ra nước ngoài, nhất là sang thị trường Nhật Bản. Dự kiến năm 2013, giải quyết việc làm cho 20.507 lao động, tăng 5,2% so với năm 2012, đạt 97,6% kế hoạch. Chỉ tiêu lao động xuất khẩu đạt thấp, năm 2013 xuất khẩu lao động được 491 người, đạt 49,1% so với kế hoạch và bằng 70% so với năm 2012 do tiêu chuẩn lao động của một số quốc gia, vùng lãnh thổ đòi hỏi khắt khe và chi phí cao, nhất là thị trường Nhật Bản.

8. Công tác an sinh xã hội

Công tác bảo hiểm xã hội tiếp tục được quan tâm, UBND tỉnh đã từng bước tổ chức thực hiện Chương trình hàng động số 49-CTr/TU của Tỉnh uỷ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020. Các chế độ chính sách BHXH, BHYT được giải quyết kịp thời, đúng chế độ cho các đối tượng; đã cấp 160.691 thẻ BHYT cho người có công, cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong, người nghèo và người cận nghèo trên địa bàn tỉnh. Đến nay, tỷ lệ dân số tham gia  BHYT trên địa bàn tỉnh đạt 67%, tăng 6% so với năm 2012.

9. Giáo dục - đào tạo

Các cấp, các ngành đã triển khai đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Công tác xây dựng hệ thống trường chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm. Năm học 2012-2013, toàn tỉnh đã xây dựng mới 15 trường chuẩn quốc gia, nâng tỷ lệ đạt chuẩn quốc gia ở các bậc học lần lượt là: bậc mầm non 66,1%, tiểu học 84,4%, THCS 46,9% và THPT đạt 33,3%. Chất lượng giáo dục đại trà ổn định; tỷ lệ học sinh THPT đỗ tốt nghiệp đạt cao; điểm bình quân các bài thi tuyển sinh đại học của học sinh Vĩnh Phúc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu cả nước. Chất lượng giáo dục mũi nhọn được khẳng định và nâng lên. Ở bậc tiểu học, học sinh của tỉnh Vĩnh Phúc giành và xếp thứ hạng cao trong các cuộc thi cấp quốc gia như: Olympic Toán, Olympic Tiếng Anh trên mạng, Trạng nguyên nhỏ tuổi...; ở bậc trung học, số lượng học sinh giỏi cấp quốc gia và quốc tế tiếp tục được phát huy, năm học 2012-2013 có 84,9% học sinh tham dự thi đạt giải tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia lớp 12 bậc THPT và có 01 học sinh đoạt huy chương bạc môn Toán, 01 học sinh đoạt huy chương đồng môn Sinh tại các cuộc thi Olympic quốc tế.

10. Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân

Mạng lưới y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư và phát triển trên các lĩnh vực. HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết về chuẩn hóa y tế xã giai đoạn 2013 - 2020, UBND tỉnh đã phê duyệt đề án về xây dựng Bệnh viện vệ tinh chuyên khoa ung biếu, chuyên khoa khoa sản và chuyên khoa nhi đến 2020 là cơ sở để các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện.

Việc ứng dụng một số kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị tiếp tục được triển khai, một số lĩnh vực đã bắt kịp với các đơn vị tuyến Trung ương như: hồi sức cấp cứu, điều trị tích cực, phẫu thuật nội soi... Các chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế tiếp tục được triển khai có hiệu quả và đạt yêu cầu của chương trình. Giá các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập trên địa bàn được quản lý và triển khai nghiêm túc theo Nghị quyết số 76/2012/NQ-HĐND ngày 21/12/2012 của HĐND tỉnh. Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh đã từng bước được cải thiện ở cả tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã.

Công tác y tế dự phòng được triển khai tích cực và chủ động, chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị y tế, thuốc, vật tư, hóa chất để sẵn sàng dập dịch khi có dịch bệnh xảy ra và được Bộ Y tế đánh giá tốt. Công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường. Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện đảm bảo an toàn theo đúng quy định về sử dụng vắcxin, sinh phẩm y tế trong dự phòng và điều trị. Công tác truyền thông về phòng chống HIV/AIDS tới cộng đồng tiếp tục được đẩy mạnh từ tỉnh đến cơ sở.

11. Hoạt động văn hoá, thể thao

Phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao về chất lượng và hiệu quả hoạt động gắn với thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 18/10/2012 của Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, tổ chức các ngày kỷ niệm, không uống rượu, bia trong ngày làm việc và không hút thuốc lá nơi công sở tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần quan trọng xây dựng nếp sống văn minh trên địa bàn tỉnh...

Hoạt động thể dục thể thao quần chúng được duy trì thường xuyên, thể thao thành tích cao được chú trọng. Thực hiện Kế hoạch số 999/KH-UBND ngày 04/3/2013 của UBND tỉnh về tổ chức Đại hội TDTT các cấp tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ IV năm 2013 - 2014, năm 2013 tỉnh đã chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao ở cấp huyện, cấp xã, cấp đơn vị đoàn thể, tạo tiền đề tổ chức Đại hội thể dục thể thao cấp tỉnh lần thứ IV.

Chất lượng và thời lượng phát sóng phát thanh, truyền hình được cải thiện đáp ứng tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh và góp phần nâng cao dân trí. Từ 01/01/2013 Vĩnh Phúc đã đưa vào sử dụng hệ thống phát sóng kênh Truyền hình Vĩnh Phúc trên vệ tinh Vinasat 2.

            12. Tình hình giao thông

Theo báo cáo của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, từ ngày 16/11/2012 đến 15/11/2013, toàn tỉnh xảy ra  59 vụ tai nạn giao thông, làm chết 47 người, bị thương 42 người. Nguyên nhân các vụ tai nạn chủ yếu do người điều khiển phương tiện đi sai phần đường, vi phạm tốc độ, vượt xe sai quy định, không chú ý quan sát và quy trình thao tác lái xe. Mục tiêu “ba giảm” về trật tự an toàn giao thông được đảm bảo: giảm 2 vụ, 6 người chết và giảm 3 người bị thương so với năm 2012. Trên địa bàn không xảy ra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, đua xe trái phép và ùn tắc giao thông.

Trong năm 2013, Phòng Cảnh sát giao thông đã mở 6 đợt cao điểm tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tập trung xử lý theo chuyên đề: Xe ôtô chở khách, môtô, xe máy vi phạm; ôtô tải chở quá khổ, quá tải; xe biển xanh, biển đỏ, xe biển ngoại giao, biển nước ngoài vi phạm; người ngồi trên môtô, xe máy không đội mũ bảo hiểm... Qua đó, đã phát hiện 14.394 trường hợp vi phạm; tạm giữ 791 phương tiện, 13.603 bộ giấy tờ xe; tước giấy phép lái xe 2.451 trường hợp và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên 14.000 trường hợp, nộp ngân sách hơn 18,6 tỷ đồng.

            13. Thiệt hại do thiên tai

Do ảnh hưởng cơn bão số 5 và số 6 có mưa lớn kéo dài trên diện rộng gây thiệt hại về người và tài sản. Thiệt hại cụ thể như sau: ngập úng 4.067 ha lúa và 761 ha hoa màu, trong đó 1.526 ha lúa và 680 ha hoa màu bị mất trắng; 1.528 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị ngập tràn; có 01 người bị chết; bị sạt lở 170m chiều dài các đoạn đê, 6.210m chiều dài kênh mương, 2.650 m3 đất, đá, bê tông thuộc công trình giao thông; bị gãy đổ 09 cột điện trung và cao thế, 03 cột điện hạ thế; 03 trạm biến thế bị ngập, hư hại; 0,7km đường dây điện lực bị đứt; 02 phòng học bị sập đổ; 01 phòng học bị ngập, hư một phần; 01 nhà văn hoá thôn bị hỏng; 23 nhà ở bị sập; 17 nhà ở bị sạt lở tốc mái; 35 công trình phụ bị đổ; 141m2 công trình phụ bị tốc mái; 9.669m tường rào bị đổ; 328 giếng nước bị ngập; 20.852 con gia cầm bị chết... Ước tính tổng giá trị thiệt hại do bão gây ra khoảng 87 tỷ đồng. Ngay sau bão, chính quyền các cấp đã chủ động cùng nhân dân địa phương khắc phục hậu quả, nhanh chóng giải quyết các thủ tục và hỗ trợ thiệt hại cho các gia đình có người chết theo qui định, góp phần ổn định cuộc sống của nhân dân.

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: