Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2014

06/10/2014

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

a. Nông nghiệp

+Trồng trọt: Theo số liệu sơ bộ, vụ mùa năm nay toàn tỉnh gieo trồng được 33.183 ha cây hàng năm, giảm 0,78% so với cùng kỳ năm 2013. Trong tổng số, diện tích lúa là 27.762 ha, giảm 1,32% so với cùng kỳ năm 2013; ngô đạt 1.624 ha, tăng 3,86%; cây lấy củ có chất bột đạt 255 ha, tăng 7,51%; rau các loại đạt 1.744 ha, tăng 3,29%...Vụ mùa năm nay thời tiết mưa nhiều tạo điều kiện cho cây lúa phát triển, tuy nhiên vào thời kỳ lúa trỗ lại mưa nhiều, nắng ít đã ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn của cây lúa. Bên cạnh đó, một số huyện bị ảnh hưởng của sâu đục thân như huyện Sông Lô, Lập Thạch nên đã ảnh hưởng đến năng suất. Dự kiến, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu vụ mùa như sau: lúa đạt 52,18 tạ/ha, tăng 20,18% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 144.861 tấn, tăng 18,59%; ngô đạt 44,89 tạ/ha, tăng 16,97%, sản lượng đạt 7.290 tấn, tăng 21,49%; khoai lang đạt 89,92 tạ/ha, tăng 10,58%, sản lượng đạt 2.019 tấn, tăng 16,83%; rau các loại đạt 184,22 tạ/ha, tăng 19,16%, sản lượng đạt 32.136 tấn, tăng 23,07% so với cùng kỳ... Năng suất, sản lượng cây trồng vụ mùa năm nay đều cao hơn năm trước chủ yếu là do vụ mùa 2013 chịu ảnh hưởng của 2 cơn bão số 5 và số 6 làm mất trắng hơn 3.000 ha lúa.

Tính chung cả năm 2014, toàn tỉnh gieo trồng được 95.694 ha cây hàng năm, giảm 0,37% so với năm 2013. Trong đó, lúa gieo trồng được 58.593 ha,  giảm 0,75% so với cả năm 2013; 15.094 ha ngô, giảm 4,55%; diện tích nhóm cây lấy củ có chất bột đạt 4.520 ha; diện tích gieo trồng cây rau các loại 8.878 ha, tăng 15,03% so với năm 2013... Dự kiến năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu cả năm 2014 như sau: năng suất lúa đạt 56,47 tạ/ha, tăng 8,08% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 330.870 tấn, tăng 7,26%; ngô đạt 42,81 tạ/ha, tăng 3,76%, sản lượng đạt 64.622 tấn, giảm 0,95%; khoai lang đạt 101,12 tạ/ha, tăng 3,20%, sản lượng đạt 27.735 tấn, tăng 13,51%; rau các loại đạt 199,83 tạ/ha, tăng 10,13%, sản lượng đạt 177.413 tấn, tăng 26,68% so với năm 2013...

Tổng diện tích các loại cây lâu năm hiện có 8.330 ha, tăng 0,60% so với cùng kỳ trong đó: Diện tích cây ăn quả là 7.767 ha chiếm 93,24% diện tích các loại cây lâu năm. Diện tích một số loại cây ăn quả chủ yếu như: xoài 720 ha, chuối 1.664 ha, na 291 ha, nhãn 819 ha, vải 2.125 ha,... Dự án mở rộng diện tích trồng Thanh long ruột đỏ sau 3 năm thực hiện được đánh giá là khá thành công, được trồng chủ yếu ở một số xã của các huyện Lập Thạch, Phúc Yên, Tam Đảo. Đến nay diện tích loại cây này ước khoảng 138,2 ha, tăng 29,9%, sản lượng 424 tấn tăng 7,6%. Cùng với Thanh long, Na dai Bồ Lý cũng đang trở thành loại cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất.

+ Chăn nuôi: Từ đầu năm đến nay, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không xảy ra những dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh. Theo thông báo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, tại Việt Nam đã phát hiện một số trường hợp dương tính với vi rút cúm A/H5N6 trên đàn gà nuôi tại Lạng Sơn và vịt nuôi tại Hà Tĩnh (đây là chủng vi rút cúm có tỷ lệ tương đồng trên 99% so với chủng vi rút cúm A/H5N6 gây tử vong trên người tại Trung Quốc). Để chủ động phòng, chống dịch cúm gia cầm H5N6 và ngăn chặn các chủng vi rút cúm gia cầm nguy hiểm khác từ bên ngoài vào địa bàn tỉnh, hạn chế thấp nhất vi rút cúm lây nhiễm và gây tử vong cho người, bảo vệ sản xuất chăn nuôi. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT tại Công điện số 6529/CĐ-BNN-TY ngày 14/8/2014 về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống bệnh cúm gia cầm; văn bản số 6563/BNN- TY ngày 15/8/2014 về triển khai tháng vệ sinh tiêu độc, khử trùng đợt 2/2014, ngày 09 tháng 9 năm 2014 Chủ tịch UBND tỉnh đã có chỉ thị số 10/CT-UBND về thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm và triển khai vệ sinh khử trùng tiêu độc môi trường chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Theo đó, yêu cầu các cấp các, các ngành có liên quan chỉ đạo thực hiện tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm và khử trùng tiêu độc môi trường đợt 2; tổ chức thông tin tuyên truyền để mọi người dân tích cực tham gia phòng chống; tăng cường kiểm tra, giám sát dịch bệnh, kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, buôn bán gia cầm, sản phẩm gia cầm trên địa bàn tỉnh; nghiêm cấm và xử lý nghiêm các trường hợp kinh doanh buôn bán, vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu...  

Hiện nay, chăn nuôi trên dịa bàn tương đối thuận lợi do giá sản phẩm đang ở mức có lãi cho người chăn nuôi, vì vậy số lượng đàn trâu, bò và lợn được duy trì ổn định, đàn gia cầm đã cơ bản được phục hồi đảm bảo cho chăn nuôi tiếp tục phát triển. Căn cứ vào kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 01/4/2014 và nhận định về xu hướng phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Dự kiến đến 01/10/2014, trên địa bàn tỉnh có 21.478 con trâu, tăng 0,10% so với thời điểm 01/10/2013; 95.690 con bò, tăng 0,24%, trong đó có 5.403 con bò sữa, tăng 38,57%; 505.960 con lợn (không tính lợn sữa), tăng 1,49%; 8.860 ngàn con gia cầm, giảm 2,70% so với thời điểm 01/10/2013. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng chín tháng đầu năm 2014 dự kiến đạt 75.304 tấn tăng 0,56% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 51.887 tấn, tăng 1,44% so với cùng kỳ.

b. Lâm nghiệp

Dự kiến chín tháng đầu năm 2014, các đơn vị có sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trồng mới được 761 ha, đạt 86,38% kế hoạch, tăng 0,9% so với cùng kỳ.  Trong đó, rừng sản xuất 710 ha, rừng phòng hộ 30 ha, rừng đặc dụng 21 ha. Đầu vụ do chủ động làm tốt công tác chuẩn bị mặt bằng, cuốc hố, khảo sát thực địa, ươm giống cây lâm nghiệp, tập trung lực lượng trồng rừng nên đến nay các đơn vị có sản xuất lâm nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng cả năm 2014. Diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 402 ha, đạt 100% kế hoạch, giảm 32,09% so với cùng kỳ, nguyên nhân giảm chủ yếu là do diện tích rừng trồng được giao chăm sóc của tỉnh giảm. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 9.053 ha, đạt 100% kế hoạch, giảm 4,93% so với cùng kỳ. Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 163 ha, tăng 3,16% do Trung tâm Khoa học Sản xuất Lâm nghiệp được giao 05 ha diện tích làm giàu trữ lượng rừng. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước trồng được 312 nghìn cây, tăng 23,9% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 19.366 m3, giảm 5,42% so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác 41.151ste, giảm 1,44%.

Công tác phòng chống cháy rừng đ­ược chỉ đạo tích cực, nguy cơ cháy rừng được cảnh báo thường xuyên, song do thời tiết đầu năm hanh khô kéo dài, độ ẩm trong không khí thấp nên trong 9 tháng đầu năm xảy ra 11 vụ cháy tăng 9 vụ so với cùng kỳ, diện tích cháy 17,57 ha, tăng 11,57 ha.

c. Thuỷ sản

Sản xuất thuỷ sản tiếp tục nhận được sự quan tâm của tỉnh, công tác khuyến ngư được đầu tư và triển khai tích cực. Phần lớn diện tích nuôi trồng thuỷ sản là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến với hình thức nuôi hỗn hợp tuy nhiên đã có nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được ứng dụng, sử dụng các giống cá mới có năng suất, chất lượng vào sản xuất như: Cá Rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp, chép lai 3 máu, chim trắng, ba ba, trê lai, nhiều hộ đầu tư nuôi theo phương thức thâm canh và bán thâm canh, sản xuất hàng hóa, tăng năng suất, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật được cải tạo, nâng cấp nên đáp ứng được nhu cầu của thị trường và tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn.

Dự kiến đến hết tháng Chín, diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 6.990 ha, đạt 99,86% kế hoạch năm và tăng 0,92% so với cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu là nuôi cá và ươm giống thuỷ sản. Một số hộ nuôi trồng giống thuỷ sản khác có giá trị cao như: Ba ba, ếch và cá sấu, tuy nhiên số lượng nuôi trồng ít và nhỏ. Sản lượng thuỷ sản chín tháng đầu năm dự kiến đạt 13.476 tấn, tăng 4,08% so với cùng kỳ. Trong đó, cá 12.448 tấn, tăng 4,38% so cùng kỳ, tôm 63 tấn giảm 3,85%, thuỷ sản khác 965 tấn tăng 0,84% so cùng kỳ. Thuỷ sản nuôi trồng ngày càng phong phú và đa dạng về chủng loại đã giúp cho ngành thuỷ sản nâng cao được giá trị cũng như đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

2. Sản xuất Công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh tháng Chín tăng 9,54% so với tháng trước và tăng 8,79% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo ngành kinh tế cấp I: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,03% và tăng 69,24%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,66% và tăng 8,75% ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 2,26% và tăng 16,03%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải giảm 0,57% so tháng trước và giảm 6,34% so cùng kỳ. Nhìn chung trong tháng hoạt động sản xuất công nghiệp ở các ngành phát triển ổn định, số lượng hàng tồn kho giảm so tháng trước, kéo theo đó là sản phẩm sản xuất tăng, tạo ra chỉ số phát triển công nghiệp tăng khá so tháng trước và so cùng kỳ.

Tính chung chín tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh giảm 4,16% so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,08%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,34%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 15,70%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,21% so cùng kỳ năm trước. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhìn chung vẫn còn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nói chung, nên trong chín tháng đầu năm mặc dù cũng có những bước tiến như mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng lượng đơn đặt hàng song một số sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn ngành công nghiệp của tỉnh có mức tiêu thụ chậm, sản xuất không tăng. Tình hình cụ thể trong từng ngành trong chín tháng đầu năm như sau:

- Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,08% so với cùng kỳ, nhìn chung chín tháng đầu năm ngành công nghiệp khai khoáng phát triển ổn định, sản phẩm tiêu thụ tốt, các hình thức giảm giá, cung cấp sản phẩm đến tận chân các công trình xây dựng được áp dụng triệt để nên lượng khách hàng tăng;

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm 14,27% so với cùng kỳ năm trước. Sản phẩm của ngành chủ yếu vẫn được tiêu thụ trong nước, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao để đáp ứng phương châm do Nhà nước đặt ra “người Việt dùng hàng Việt”. Nhưng bên cạnh đó một số công ty lớn trong ngành đã chuyển địa bàn hoạt động dẫn đến việc chỉ số sản xuất giảm sâu so cùng kỳ;

- Ngành dệt tăng 14,25% so với cùng kỳ, sản phẩm của ngành luôn đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, đồng thời cũng luôn mang tính thời vụ, vì vậy mức độ tiêu thụ tốt, mang lại giá trị tăng cho ngành;

- Ngành sản xuất trang phục tăng 0,38% so với cùng kỳ năm trước. Chín tháng đầu năm các doanh nghiệp trong ngành vẫn sản xuất theo đơn đặt hàng của các đối tác nước bạn, với tiêu chí đặt ra cho sản phẩm là "nhanh - bền - đẹp" sản phẩm của ngành vẫn luôn giữ được uy tín trên thị trường các nước xuất khẩu, giúp ổn định sản xuất của ngành;

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước. Mấy năm gần đây do nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao cả về mẫu mã, chất lượng, kiểu dáng ...nên các doanh nghiệp trong ngành cũng đã nhanh nhạy trong việc nắm bắt tâm lý và sản xuất đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước, cũng như mở rộng thị trường xuất khẩu góp phần tăng giá trị của ngành;

- Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng 27,91% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của các đối tác nước bạn, việc đảm bảo được yêu cầu ngày càng cao của đối tác đã giúp cho các doanh nghiệp thu về ngày càng nhiều đơn đặt hàng, giúp chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành tăng;

- Ngành sản xuất xe có động cơ tăng 14,65% so cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu thụ ô tô đang được phục hồi và tăng khá do nhu cầu tiêu dùng tăng của các tầng lớp dân cư. Từ đó các nhà sản xuất tạo ra cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp như luôn đưa ra các thiết kế nổi bật với chất lượng vượt trội, giá cả hợp lý phù hợp với sức mua của người tiêu dùng trong nước, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra giá trị cao cho ngành công nghiệp;

- Ngành sản xuất phương tiện vận tải giảm 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu tiêu thụ xe máy trên thị trường hiện nay tiến gần đến mức bão hoà, nên các doanh nghiệp sản xuất xe máy, linh kiện xe máy đang tìm hướng tăng tỷ lệ xuất khẩu, sản xuất loại xe có giá trị cao, hình thức mẫu mã được cải tiến nhằm mục tiêu tăng trưởng sản xuất;

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt tăng 15,70%; ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,21% so với cùng kỳ năm trước;

Dự kiến tháng Chín, các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh sản xuất được 16.783 m­3 đá các loại tăng 8,26% so với tháng trước; 486 tấn chè các loại tăng 3,01%; 9.856 tấn thức ăn gia súc tăng 3,80%; 4.336 ngàn quần áo mặc thường tăng 17,67%; 6.771 ngàn m2 gạch ốp lát tăng 8,66%; 79.068 ngàn viên gạch xây dựng bằng đất sét tăng 11,80%; 3.563 xe ô tô các loại tăng 4,06%; 194.569 xe máy các loại tăng 12,73%... Tính chung chín tháng đầu năm các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn sản xuất được 161.152 m3 đá các loại tăng 7,63% so với cùng kỳ; 5.664 tấn chè các loại giảm 9,91%; 87.668 tấn thức ăn gia súc giảm 15,53%; 33.840 ngàn quần áo mặc thường tăng 0,38%; 56.261 ngàn m2 gạch ốp lát tăng 8,31%; 648.112 ngàn viên gạch xây dựng bằng đất sét tăng 2,56%; dịch vụ sản xuất linh kiện điện tử 409.701 triệu đồng tăng 27,14%;  28.814 xe ô tô các loại tăng 14,65%; 1.588.569 xe máy các loại giảm 11,27%; điện thương phẩm 1.247 triệu kwh tăng 16,03%; nước thương phẩm 9.288 ngàn m­3 tăng 7,90%...

3. Đầu tư, xây dựng

Năm 2014, tiếp tục thực hiện Chỉ thị 1792/CT-TTg, Chỉ thị số 14/CT-TTg  của Thủ tướng Chính phủ; tỉnh đã tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, không đầu tư dàn trải mà tập trung đầu tư vào các công trình, dự án trọng tâm, trọng điểm; đồng thời tỉnh đặc biệt chú trọng đến thu hút và giải ngân vốn ODA; tăng cường công tác xúc tiến đầu tư nhằm thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư vào tỉnh nhất là nguồn vốn từ các doanh nghiệp nước ngoài. Tỉnh đã tiến hành đồng loạt nhiều biện pháp, tập trung vận động, kêu gọi vốn đầu tư từ các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nam Phi… và coi hoạt động xúc tiến đầu tư tại chỗ là kênh quan trọng trong hoạt động xúc tiến đầu tư; đồng thời tiếp tục chỉ đạo thực hiện quyết liệt  các nhóm giải pháp cải thiện môi trường đầu tư theo Đề án Cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2013-2015.

Trong chín tháng đầu năm 2014, tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt nhiều kết quả khả quan, nhiều doanh nghiệp FDI đã đến tìm hiểu cơ hội đầu tư vào tỉnh và đã có 27 dự án mới được cấp phép hoạt động với số vốn đăng ký lên đến 210,97 triệu USD; một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ổn định tiếp tục mở rộng dự án. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 158 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký là 2.921,8 triệu USD. Công tác thu hút vốn ODA tiếp tục được tăng cường thực hiện; đến nay tổng nguồn vốn ODA tài trợ trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 177 triệu USD; trong đó, vốn ODA do các bộ, ngành Trung ương quản lý 54 triệu USD, vốn do tỉnh quản lý 123 triệu USD. Nhìn chung các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn này được thực hiện đúng mục đích và tiến độ, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 Dự kiến chín tháng đầu năm 2014, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 11.816 tỷ tăng 8,02% so với cùng kỳ. Trong đó nguồn vốn nhà nước trên địa bàn đạt 3.297,2 tỷ đồng; vốn ngoài nhà nước là 6.729,4 tỷ đồng; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.789,4 tỷ đồng. Nguyên nhân nguồn vốn đầu tư tăng là do tình hình kinh tế giữ được ổn định, công tác xúc tiến và hỗ trợ đầu tư được đẩy nhanh và có hiệu quả.

4. Tài chính, tín dụng

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tám tháng đầu năm đạt kết quả khá, dự kiến đạt 14.054 tỷ đồng, bằng 78,88% dự toán năm, tăng 15,45% so cùng kỳ năm 2013. Trong tổng số, thu nội địa đạt 12.050 tỷ đồng, bằng 83,69% dự toán năm, tăng 20,75% so cùng kỳ, trong đó thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10.388,7 tỷ đồng, tăng 22,64% so cùng kỳ, chiếm 86,21% số thu nội địa và chiếm 73,92% tổng thu ngân sách trên địa bàn. Nguyên nhân thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao so với cùng kỳ là do tình hình tiêu thụ ô tô trong những tháng qua đạt tương đối cao, trong đó cơ cấu tiêu thụ xe có số thuế tiêu thụ đặc biệt chiếm tỷ trọng cao. Chi ngân sách đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi của tỉnh, dự kiến tám tháng đầu năm tổng chi ngân sách địa phương đạt 7.166 tỷ đồng, đạt 74,87% so dự toán năm 2014.

Dịch vụ tín dụng ngân hàng đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi tiền vay đã được các tổ chức tín dụng quan tâm. Các tổ chức tín dụng đã đưa ra các gói cho vay với lãi suất hấp dẫn, tập trung vào 5 lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Dự kiến chín tháng đầu năm, các ngân hàng trên địa bàn cho vay mới 212 doanh nghiệp, tăng 7,1% so cùng kỳ và lũy kế đến hết tháng Chín cho vay khoảng 1.917 doanh nghiệp, tăng 5,68%, dư nợ 12,1 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1% so cùng kỳ năm 2013. Công tác huy động và cho vay được các ngân hàng triển khai tích cực, dự kiến đến hết tháng Chín, tổng nguồn vốn huy động đạt 26,2 nghìn tỷ đồng, tăng 29,8% so cùng kỳ và tăng 2,23% so với cuối năm 2013; tổng dư nợ đạt 25,8 nghìn tỷ đồng tăng 19,5% so cùng kỳ và tăng 14,06% so với cuối năm 2013. Nợ xấu chiếm tỉ lệ 4,04% trên tổng dư nợ. Nguyên nhân nợ xấu có xu hướng tăng là do các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại và hạch toán đầy đủ các khoản nợ xấu theo quy định.

5. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng Chín và chín tháng đầu năm 2014, mặc dù nền kinh tế còn có những khó khăn nhất định nhưng tình hình kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn vẫn có sự phát triển. Nhiều đơn vị, cơ sở đã mở rộng ngành nghề, đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh nên kết quả lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ đảm bảo đủ nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có ngày càng nhiều cơ sở kinh doanh có quy mô lớn cho hiệu quả cao điều này đã giúp cho kinh doanh thương mại và dịch vụ trong tỉnh ngày càng phát triển.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ chín tháng đầu năm dự kiến đạt 23.335 tỷ, tăng 14,53 % so cùng kỳ năm 2013. Trong đó kinh tế nhà nước 145,7 tỷ đồng, tăng 1,50 lần; kinh tế cá thể 13.332 tỷ, giảm 0,02%; kinh tế tư nhân 8.714 tỷ, tăng 33,70%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.114 tỷ tăng 1,48 lần so với cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế ngành thương nghiệp bán lẻ đạt 20.180 tỷ đồng, tăng 13,86% so với cùng kỳ; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lich 1.987 tỷ, tăng 20,58% và các ngành dịch vụ khác 1.168 tỷ, tăng 16,42% so với cùng kỳ. 

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất khẩu chín tháng dự kiến đạt 1.014.873 ngàn USD tăng 44,53% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 937.259 ngàn USD, tăng 50,00%; khu vực kinh tế trong nước 77.614 ngàn USD, tăng 0,29% so với cùng kỳ. Hàng xuất khẩu trong chín tháng đầu năm chủ yếu là các mặt hàng: dệt may 157.732 ngàn USD, tăng 8,07%; hàng điện tử 375.854 ngàn USD, tăng 92,35%; chè đạt 15.560 tấn, giá trị đạt 33.536 ngàn USD, 5,40% về lượng và tăng 17,43% về giá trị; giày dép các loại 17.730 ngàn USD, tăng 56,99% so cùng kỳ; xe máy xuất khẩu đạt 336 ngàn chiếc, giá trị đạt 245.586 ngàn USD, tăng 31,84% về lượng và tăng 32,03 % về giá trị; phụ tùng ô tô xuất khẩu đạt 3.124 ngàn chiếc, giá trị đạt 31.241 ngàn USD, tăng 9,27% về lượng và tăng 9,26% về giá trị so cùng kỳ năm 2013...

Tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tỉnh chín tháng đầu năm dự kiến đạt 1.417.989 ngàn USD, tăng 16,63% so với cùng kỳ năm trư­ớc. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 2.931 ngàn USD, tăng 36,77%; khu vực kinh tế tư nhân 70.444 ngàn USD, bằng 54,14%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư 1.344.614 ngàn USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ. Hàng nhập khẩu chủ yếu trong chín tháng đầu năm là các nguyên vật liệu để gia công sản xuất như: linh kiện, phụ tùng ô tô, xe máy, vải may mặc, hàng điện tử và nguyên phụ liệu sản xuất tân dược.

c. Vận tải hành khách và hàng hoá

Chín tháng đầu năm tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 17.790 ngàn tấn, luân chuyển 1.207 triệu tấn.km, tăng 2,23% về tấn và tăng 3,44% về tấn.km so với chín tháng đầu năm 2013. Khối l­ượng hành khách vận chuyển đạt 16.090 ngàn người, luân chuyển 1.065,7 triệu người.km, tăng 0,83% về người và tăng 0,19% về người.km so với cùng kỳ năm 2013. Tổng doanh thu dịch vụ vận tải chín tháng đầu năm dự kiến đạt 2.062,5 tỷ đồng, tăng 13,10% so cùng kỳ. Trong đó, vận tải đường bộ đạt 1.798,9 tỷ đồng tăng 11,61%; vận tải đường số đạt 263,5 tỷ đồng, tăng 24,46.

d. Chỉ số giá tiêu dùng

Tháng Chín năm 2014, giá cả hàng tiêu dùng trên địa bàn tỉnh có mức tăng nhẹ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,42% so với tháng trước, tăng 1,53% so tháng Mười hai năm trước. Trong tháng, các nhóm hàng thiết yếu đều tăng như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,57%; may mặc mũ nón giầy dép tăng 0,21%; giáo dục tăng 3,64%; văn hoá giải trí và du lịch tăng 0,29%. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do: học phí lớp nhà trẻ và mẫu giáo tư thục tăng vào đầu năm học mới; giá một số mặt hàng thực phẩm chính yếu tăng như: thịt lợn, thịt gà, trứng và rau củ trái vụ tăng; trong tháng có ngày nghỉ lễ kéo dài nên giá một số dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và giá phòng nhà nghỉ, khách sạn đều tăng. Bình quân chín tháng đầu năm CPI tăng 5,43% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng tương đối thấp so với các năm 2012 (tăng 14,03%) và năm 2013 (tăng 7,21%) điều này cho thấy công tác bình ổn giá trên địa bàn toàn tỉnh tiếp tục đạt được kết quả tốt. Hàng hoá tiêu dùng đa dạng, đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu của nhân dân, giá cả phần lớn không có nhiều biến động.

Diễn biến giá của các nhóm hàng chính trong tháng Chín như sau:

- Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,57% so với tháng trước, do giá các mặt hàng thực phẩm như thịt lợn, thịt gia cầm, rau củ trái vụ tăng. Bên cạnh đó trong tháng có số ngày nghỉ lễ kéo dài, lượng khách tham quan du lịch tăng nên nhóm hàng ăn tăng đã đẩy chỉ số chung cả nhóm tăng;

- Chỉ số nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,21% do bước vào năm học mới 2014-2015 nên nhu cầu mua sắm quần áo cho trẻ em tăng như: áo sơ mi dài tay trẻ em 10 tuổi 100% coton, quần âu em trai 10 tuổi vải kaki, quần âu em gái 10 tuổi vải polyester đều tăng từ 1,21%-2,74%. Trong tháng thời tiết tiếp tục nắng nóng nên giá mặt hàng quần áo lót người lớn tăng 3,01% do chi phí đầu vào tăng làm cho chỉ số giá nhóm hàng may mặc sẵn tăng;

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,14% do sự điều chỉnh giá gas giảm 7.000/bình từ ngày 1/9/2014 của các công ty kinh doanh gas trong nước. Giá gas trong nước giảm do giá gas thế giới giao dịch tháng Chín giảm 25 USD/tấn so với tháng Tám xuống còn 765USD. Trước đó từ đầu tháng 8 giá gas cũng giảm 12.000đ/bình 12kg. Giá dầu hoả giảm 1,99% cũng đã tác động giảm đến chỉ số chung của nhóm;

- Nhóm giao thông giảm 2,08% do sự điều chỉnh giá xăng dầu giảm ba đợt của tập đoàn xăng dầu Việt Nam vào các ngày 18 và 29 tháng 8 năm 2014, ngày 9 tháng 9 năm 2014 mỗi lít xăng giảm 1.100đ/lít; dầu diezen giảm 400đ/lít nên chỉ số giá xăng dầu giảm 4,06% so với tháng trước. Chỉ số giá dịch vụ giao thông công cộng giảm (-0,92%) do một số doanh nghiệp kinh doanh vận tải giảm giá vé xe khách khi giá xăng dầu giảm;

- Nhóm giáo dục tăng 3,64% do học phí của các trường nhà trẻ, mầm non tư thục đầu năm học mới bắt đầu tăng làm cho nhóm giáo dục tăng khá;

- Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,29% do trong tháng có 4 ngày nghỉ lễ kéo dài đã thu hút một lượng lớn khách du lịch đổ về nghỉ dưỡng, tham quan ở Tam Đảo, Khu danh thắng Đại Bảo Tháp Tây Thiên, khu nghỉ dưỡng Flamingo Đảo Ngọc nên nhu cầu phòng nghỉ tăng, giá khách sạn nhà trọ được các chủ kinh doanh đẩy lên ăn theo mùa vụ đều tăng từ 0,72% - 2,46% so với tháng trước;

Chỉ số giá vàng địa bàn tỉnh tháng Chín giảm 1,03% so với tháng trước, giá vàng bình quân trên thị trường tự do là 3.360 nghìn đồng/chỉ. Cùng chiều với giá vàng, giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do cũng có sự giảm nhẹ (0,76%) so với tháng trước theo mức giảm chung của cả nước, giá bán bình quân phổ biến ở mức 20.953 đồng/USD.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Công tác giải quyết lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội

Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm cho người lao động được UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo quyết liệt, tiếp tục triển khai các nội dung của Nghị quyết số 37/NQ-HĐND ngày 19/12/2011 của HĐND tỉnh về một số chính sách hỗ trợ Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo giai đoạn 2012-2015 để đào tạo nguồn nhận lực phục vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Tổ chức tốt các sàn giao dịch việc làm, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ cho các lao động đi xuất khẩu, thực hiện chương trình xuất khẩu lao động trong đó tập trung đẩy mạnh chương trình xuất khẩu lao động sang thị trường có tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc. Dự kiến năm 2014 sẽ giải quyết việc làm cho 22.000 lao động trong đó Công nghiệp 10.000 người, Nông nghiệp 4.500 người, thương mại- dịch vụ 5.500 người, quỹ quốc gia giải quyết việc làm cho 1.000 người, xuất khẩu lao động 1.000 người. Các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh tiếp tục được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành. Chất lượng dạy và học không ngừng được nâng cao. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 53 cơ sở dạy nghề, trong đó có 05 trường Cao đẳng nghề, 02 trường trung cấp nghề, 03 trung tâm dạy nghề cấp huyện, 12 trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng có dạy nghề, 07 trung tâm giáo dục thường xuyên, 24 cơ sở khác có dạy nghề. Trong kỳ, tỉnh Vĩnh Phúc đã tham gia Hội thi tay nghề quốc gia năm 2014. Kết quả đạt 01 giải nhất, 02 giải ba, và 09 giải khuyến khích, xếp thứ 3 toàn đoàn (sau đoàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Với mạng lưới đào tạo nghề rộng khắp cùng với việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất trường lớp, giáo viên, đã đáp ứng được nhu cầu dạy và học, cung cấp lực lượng lao động có tay nghề cho các doanh nghiệp trong tỉnh đảm bảo đáp ứng nhu cầu nhân lực tại chỗ cho khu công nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được tỉnh quan tâm, triển khai tích cực, nhất là giải quyết tốt các chế độ ưu đãi đối với người có công, gia đình chính sách, gia đình khó khăn. Phong trào đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, các quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo...tiếp tục được triển khai thực hiện. Hoạt động bảo trợ xã hội, giảm nghèo tiếp tục được quan tâm, chú trọng; Công tác Bảo hiểm tiếp tục được quan tâm thực hiện theo Chương trình hành động số 49-CTr/TU của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020. Chế độ chính sách BHXH, BHYT được giải quyết kịp thời, đúng định mức cho các đối tượng thụ hưởng. Việc cấp kinh phí hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo được triển khai theo đúng các quyết định số 2409/QĐ-TTg ngày 19/12/2011 và số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

2. Giáo dục và đào tạo

Năm học 2013-2014, ngành giáo dục đã triển khai nghiêm túc nhiệm vụ năm học, đạt chất lượng và hiệu quả cao; tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục toàn diện. Trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014, Vĩnh Phúc tiếp tục đứng thứ nhất cả nước về điểm trung bình 3 môn thi, có 9 học sinh đỗ thủ khoa vào các trường đại học. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12, toàn tỉnh có 67/76 học sinh đạt giải ở 10 môn thi, trong đó có 3 giải Nhất, 14 giải Nhì. Tại các sân chơi trí tuệ khác, học sinh Vĩnh Phúc luôn đạt thành tích cao và khẳng định được vị trí tốp đầu cả nước với giải Nhì đồng đội tại kỳ thi học sinh giỏi giải toán trên máy tính cầm tay cấp quốc gia; thi giải Toán quan Internet toàn quốc cấp Tiểu học đạt 6 Huy chương Vàng, 8 Huy chương Bạc, cấp Trung học đạt 19 Huy chương Vàng, 20 Huy chương Bạc; thi Trạng nguyên nhỏ tuổi có 1 giải Trạng nguyên, 3 Bảng nhãn, 2 Thám hoa… 

Năm học 2014-2015, cùng với cả nước, ngành Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc chính thức triển khai chủ trương “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và Đào tạo” theo Nghị quyết số 44 của Chính phủ. Ngành tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong các nhà trường; từng bước tăng tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh đỗ đại học; tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với đổi mới giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh. Trong đó, tập trung ưu tiên cho giáo dục 5 tuổi, đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho trẻ ở tất cả các cơ sở giáo dục mầm non; triển khai mở rộng mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN); thực hiện các giải pháp phân luồng học sinh sau THCS, THPT. Tập trung xây dựng môi trường giáo dục tại các nhà trường thân thiện, an toàn; quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên trẻ cốt cán, có năng lực, trách nhiệm, tâm huyến với nghề.

3. Y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm

Hiện nay, dịch sởi, sốt phát ban, tay chân miệng, đau mắt đỏ trên địa bàn đã được khống chế. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp và nguy hiểm của nhiều loại dịch bệnh trên thế giới, đặc biệt là dịch bệnh do nhiễm virút Ebolla. Mặc dù đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp bệnh do virus Ebola, song cùng với cả nước ngành Y tế của tỉnh tiếp tục thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn sự xâm nhập và lây lan của dịch bệnh do virus Ebola vào Việt Nam; đồng thời chủ động ứng phó có hiệu quả nhất, ít thiệt hại nhất khi dịch bệnh xảy ra, bảo vệ sức khỏe và tính mạng của nhân dân.

Ngày 6/8/2014, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 4408/KH-UBND, triển khai chiến dịch tiêm vắc sin Sởi- Rubella trong tiêm chủng mở rộng trên địa bàn tỉnh. Vĩnh Phúc là 1 trong 10 tỉnh có nguy cơ cao được Bộ Y tế chỉ đạo tiêm bổ sung vắc xin sởi miễn phí cho trẻ từ 2 tuổi đến dưới 10 tuổi trong tháng 5, tháng 6 năm 2014. Việc triển khai chiến dịch tiêm vắc xin Sởi - Rubella cho tất cả trẻ em từ 1 đến 14 tuổi sẽ góp phần lớn làm giảm gánh nặng bệnh Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh, góp phần rất quan trọng để Vĩnh Phúc đạt mục tiêu loại trừ bệnh sởi vào năm 2017 và bệnh Rubella vào năm 2020

Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành. Hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông phổ biến kiến thức cho người dân được thực hiện thường xuyên bằng nhiều hình thức phong phú như: Tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cấp phát tờ gấp, treo băng zôn, khẩu hiệu, qua đó nhận thức của người tiêu dùng và các đối tượng sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm được nâng lên; trong “Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm” có 85% chủ doanh nghiệp và hộ cá nhân sản xuất, kinh doanh trên địa bàn đã ký cam kết chấp hành đầy đủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2013.

Công tác thanh, kiểm tra các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh được duy trì thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch tại tất cả các tuyến. Qua kiểm tra, các lỗi vi phạm chủ yếu gồm: Môi trường nơi sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm chưa đảm bảo vệ sinh, chưa thực hiện đúng theo nguyên tắc một chiều; người trực tiếp tham gia sản xuất chế biến chưa đi khám sức khỏe định kỳ theo quy định, thiếu trang phục bảo hội lao động, sử dụng nguyên liệu thực phẩm và bày bán thực phẩm đã quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất sứ… Tám tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm với 62 người mắc, 36 người đi viện, không có tử vong. Nguyên nhân được xác định là ăn thịt chiên xù, chưa xác định rõ căn nguyên. Khi xảy ra ngộ độc, Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc khẩn trương triển khai các biện pháp chuyên môn, xử lý và điều trị kịp thời các trường hợp mắc ngộ độc.

4. Các hoạt động văn hoá và thể thao,

Các hoạt động văn hóa, thể thao được duy trì, đảm bảo phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tinh thần của nhân dân nhất là trong dịp Tết nguyên đán, Tuần Văn hoá du lịch Vĩnh Phúc và các ngày lễ lớn trong năm như: Chương trình biểu diễn nghệ thuật mang tên " Chiến thắng Điện Biên - bản hùng ca bất diệt" do Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và công ty Cổ phần thương mại Sông Hồng Thủ đô tổ chức tại khu công viên quảng trường tỉnh; Liên hoan văn nghệ công nhân, viên chức, lao động tỉnh năm 2014; Kỷ niệm 69 năm ngày Quốc khánh 2/9 và chào mừng Ngày Âm nhạc Việt Nam 3/9 chương trình nghệ thuật do Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Công ty cổ phần thương mại Sông Hồng Thủ đô tổ chức tại Công viên Quảng trường tỉnh với chủ đề “Âm vang khúc hát mùa thu” đêm nhạc đã thu hút hàng nghìn khán giả đến xem, cổ vũ... Các hoạt động văn hoá, văn nghệ trên đều thể hiện tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, vẻ đẹp của biển đảo quê hương, khát vọng hòa bình và ca ngợi quê hương Vĩnh Phúc đang trên đường đổi mới và phát triển. Đặc biệt Cuộc thi “Người đẹp Tây Thiên 2014” với chủ đề “Duyên sắc Tây Thiên" lan tỏa giá trị truyền thống. Đây là một trong những hoạt động văn hóa lành mạnh, bổ ích góp phần khẳng định và tôn vinh vẻ đẹp về hình thể, tài năng, trí tuệ, tâm hồn của người phụ nữ Vĩnh Phúc trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, qua đó giới thiệu, quảng bá về đất và người Vĩnh Phúc, tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Vĩnh Phúc tới bạn bè trong nước và quốc tế.

Hoạt động thể dục thể thao mừng Đảng, mừng Xuân, mừng các ngày lễ lớn được tổ chức rộng rãi, thu thút được đông đảo nhân dân tham gia như: Đại hội Thể dục thể thao lần thứ IV năm 2014. Tham dự buổi lễ có hơn 1.000 học sinh, sinh viên, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang tham gia diễu hành, đồng diễn nghệ thuật; 682 vận động viên đến từ 14 đoàn thể thao cùng đông đảo nhân dân địa phương và khách thập phương. Đại hội TDTT tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ  IV là hoạt động có ý nghĩa chính trị - xã hội lớn, thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh, biểu dương lực lượng, tinh thần, ý chí, sức mạnh của người dân Vĩnh Phúc, qua đó phát động sâu rộng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Giải Cầu lông Cúp Báo Lao động năm 2014 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Cầu lông Việt Nam phối hợp với Báo Lao động tổ chức. Giải quy tụ các vận động viên là công nhân viên chức lao động có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thi đấu ở các tỉnh, thành phố với sự tham gia của 280 vận động viên, thuộc 44 đoàn, tranh 19 bộ huy chương, giải đấu đã diễn ra tốt đẹp. Kết quả, về nhất toàn đoàn là 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh với 3 huy chương vàng, 1 huy chương bạc. Đoàn Vĩnh Phúc giành 4 huy chương đồng. Ban Tổ chức cũng trao bằng khen, giấy khen cho một số tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong giải đấu.

5. Tình hình trật tự an toàn xã hội và tai nạn giao thông

Chín tháng đầu năm, Công an tỉnh đã thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tăng cường phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện, hoạt động vi phạm an ninh trật tự xã hội. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiểm soát an toàn giao thông được đẩy mạnh, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh được duy trì ổn định.

Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, tính đến ngày 15/8/2014, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông (trong đó có 01 vụ tai nạn đường sắt, 32 vụ tại nạn đường bộ), làm 28 người chết và 10 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 3%, số người chết tăng 10,7%, số người bị thương giảm 58,3%. Nhằm góp phần kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông, Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh đã xây dựng kế hoạch thực hiện đợt cao điểm bảo đảm trật tự an toàn giao thông và huy động tối đa lực lượng, phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong tuần tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm, tập trung vào các địa bàn trọng điểm, thời gian cao điểm. Trong đó, tập trung xử lý vi phạm theo các chuyên đề xe ô tô chở khách, xe container, ô tô tải, mô tô với các hành vi vi phạm: Chạy quá tốc độ; tránh vượt sai quy định; chở hàng quá khổ, quá tải; vượt đèn đỏ; đi không đúng phần đường, làn đường; vi phạm quy định về sử dụng rượu, bia khi điều khiển phương tiện; chở quá số người quy định; người ngồi trên mô tô, xe máy không đội mũ bảo hiểm. Đồng thời, chủ động phối hợp với Thanh tra Sở Giao thông vận tải kiểm tra, xử lý xe ô tô chở quá tải trên địa bàn tỉnh; xử lý nghiêm hành vi vi phạm lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi kinh doanh hoặc trông giữ xe trái phép, các trường hợp đi ngược chiều, dừng, đỗ xe trái quy định. Tăng cường công tác quản lý vận tải hành khách tại các bến xe; phối hợp với các đơn vị trong ngành Đường sắt, tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường sắt. Trong đợt nghỉ lễ từ ngày 30/8 đến 2/9 vừa qua, nhu cầu đi lại của nhân dân tăng cao, các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra kiểm soát giao thông, phát hiện, lập biên bản 363 trường hợp vi phạm, tạm giữ 98 phương tiện, 365 bộ giấy tờ; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 36 trường hợp nộp vào ngân sách nhà nước 34,5 tỷ đồng. Lực lượng liên ngành tại Trạm kiểm tra tải trọng xe lưu động duy trì trực, kiểm tra, kiểm soát 24/24 giờ, xử lý kiên quyết đối với các trường hợp xe ô tô trở quá tải trọng cho phép, do đó không xảy ra ùn tắc giao thông kéo dài; hoạt động vận tải khách đã đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, tình hình trật tự an toàn giao thông ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông trong dịp nghỉ lễ./.

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc

 

 

 

 

Các tin đã đưa ngày: