Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014

30/07/2014

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Về tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) sáu tháng đầu năm 2014 theo giá so sánh 2010 đạt 21.736 tỷ đồng, tăng 3,49% so cùng kỳ năm 2013.

Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 2.260 tỷ đồng, tăng 3,68% so với cùng kỳ, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,38 điểm %, riêng ngành nông nghiệp đạt 2.109 tỷ đồng, tăng 3,71% so cùng kỳ, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,36 điểm %. Trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt đạt kết quả khá. Tuy diện tích gieo trồng lúa và ngô giảm so với cùng kỳ, nhưng tiếp tục được mùa, năng suất lúa đạt 60,37 tạ/ha, tăng 0,12%, sản lượng đạt 186,1 ngàn tấn, năng suất ngô đạt 42,49 tạ/ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 57,2 ngàn tấn; diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây trồng chủ yếu còn lại nhìn chung đều tăng so cùng kỳ nhất là cây rau các loại, diện tích rau tăng 18,33%, năng suất tăng 8,16%, sản lượng tăng 27,98% so với cùng kỳ năm 2013. Trong chăn nuôi, tại thời điểm 01/4 số đầu con gia súc, gia cầm nhìn chung đều giảm so cùng kỳ, trong kỳ sản lượng sản phẩm gia súc tăng, nhưng sản lượng sản phẩm gia cầm giảm.

Tổng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng theo giá so sánh 2010 đạt 14.211 tỷ, tăng 1,64% so cùng kỳ, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 1,09 điểm %. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng đạt 1.219 tỷ đồng, tăng 3,68%. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp đạt 12.992 tỷ đồng, tăng 1,45% so cùng kỳ, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,89 điểm %. Quyết định đến tăng trưởng chung của tỉnh cũng như riêng của ngành công nghiệp chủ yếu là do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Dự kiến, giá trị tăng thêm sáu tháng đầu năm của ngành công nghiệp thuộc khu vực này đạt 10.484 tỷ, tăng 1,15% so cùng kỳ, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,57 điểm %; khu vực kinh tế trong nước tăng 2,73%, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,32 điểm %.

Tổng giá trị tăng thêm theo giá so sánh 2010 của các ngành dịch vụ đạt 5.265 tỷ đồng, tăng 8,75% so cùng kỳ năm 2013, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 2,02 điểm %.

2. Tài chính, tín dụng

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh sáu tháng đầu năm đạt kết quả khá, dự kiến đạt 9.700 tỷ đồng, đạt 54,4% dự toán, tăng 12,6% so với cùng kỳ. Trong tổng số, thu nội địa đạt 8.270 tỷ đồng, đạt 57,4% dự toán năm, tăng 16% so cùng kỳ, trong đó thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7.166 tỷ đồng, tăng 19,17% so cùng kỳ, chiếm 86,65% số thu nội địa và chiếm 73,88% tổng thu ngân sách trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 6.483,8 tỷ đồng, đạt 67,7% so dự toán, tăng 18,85% so cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 3,50% so cùng kỳ và chiếm 48,72% tổng chi ngân sách địa phương.

Hoạt động tín dụng ngân hàng tiếp tục được đảm bảo cho sự phát triển kinh tế của địa phương. Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận nguồn vốn, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi tiền vay đã được các tổ chức tín dụng quan tâm nhằm chia sẻ khó khăn cho khách hàng. Các tổ chức tín dụng đã đưa ra các gói cho vay với lãi suất hấp dẫn, tập trung vào 5 lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Công tác huy động vốn được các ngân hàng triển khai tích cực, đưa ra nhiều giải pháp phù hợp, nên mặc dù lãi suất tiền gửi giảm nhưng nguồn vốn huy động vẫn tăng trưởng khá. Dự kiến đến hết tháng 6, tổng nguồn vốn huy động tăng 36% so cùng kỳ, tăng 7,86% so với cuối năm 2013; tổng dư nợ tăng 15,4% so cùng kỳ, tăng 8,3% so với cuối năm 2013. Nợ xấu chiếm tỉ lệ 3,46% trên tổng dư nợ. Nguyên nhân nợ xấu có xu hướng tăng là do các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại và hạch toán đầy đủ các khoản nợ xấu theo quy định.

3. Đầu tư - Xây dựng

Công tác phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục có nhiều tiến bộ, hầu hết các nguồn vốn đều được phân khai chi tiết từ đầu, đến nay chỉ còn một phần vốn cho các dự án BT chưa phân bổ, do phải dành nguồn để thanh toán theo hợp đồng. Sáu tháng đầu năm 2014 đã phân bổ vốn cho 1.694 công trình, tăng 34% so với cùng kỳ, trong đó: cấp tỉnh phân bổ cho 999 công trình tăng 59,3%, cấp huyện phân bổ cho 695 công trình tăng 9% so với cùng kỳ năm 2013. Nguyên nhân số công trình được bố trí vốn tăng so với cùng kỳ năm 2013 là do phân bổ vốn chủ yếu tập trung vào thanh toán nợ các công trình hoàn thành đã quyết toán, hoàn thành chưa quyết toán, và các dự án Nông thôn mới có tổng mức đầu tư nhỏ nên phát sinh về số lượng đầu mục công trình.

Công tác chuẩn bị đầu tư được UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt, hạn chế đến mức tối đa đầu tư dự án mới, nhằm tập trung nguồn lực cho các dự án chuyển tiếp, thanh toán nợ XDCB. Sáu tháng đầu năm, cấp tỉnh thẩm định 51 dự án, tăng 32 dự án so với cùng kỳ năm 2013. Tổng mức đầu tư các dự án đã trình phê duyệt là 2.171 tỷ đồng tăng 318% so với cùng kỳ năm 2013. Thông qua thẩm định đã cắt giảm 44 tỷ đồng, bằng 6,5% so với mức đầu tư do chủ đầu tư trình. Dừng thẩm định 01 dự án để chuyển sang sử dụng bằng vốn của ngành điện (dự án di chuyển đường điện của Đường Tôn Đức Thắng kéo dài từ cầu Quảng Khai đến đường Nguyễn Tất Thành kéo dài). Cấp huyện, xã thẩm định 45 dự án mới (giảm 15% so với cùng kỳ năm 2013), với tổng mức đầu tư được phê duyệt là 113,4 tỷ đồng (giảm 34% so với cùng kỳ 2013).

Hoạt động xúc tiến đầu tư được quan tâm, triển khai tích cực, có hiệu quả, thu hút các dự án đầu tư tăng cao so với cùng kỳ. Trong sáu tháng đầu năm tỉnh tập trung vận động thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn thuộc các ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức, công nghệ cao, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn; ưu tiên thu hút các nhà đầu tư đến từ các nước phát triển như Châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc. Hoạt động xúc tiến đầu tư tập trung vào hoạt động xúc tiến đầu tư tại chỗ, coi đây là kênh quan trọng trong hoạt động xúc tiến đầu tư. Tổ chức tiếp và làm việc với nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu môi trường, cơ hội đầu tư tại tỉnh. Tham gia gian hàng xúc tiến đầu tư công nghiệp  tại Hội trợ Vietnam Expo 2014 do Bộ Công Thương tổ chức tại Hà Nội. Phối hợp với các cơ quan truyền tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá phục vụ xúc tiến đầu tư trên các phương tiện thông tin.

 Kết quả, sáu tháng đầu năm tỉnh đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 38 dự án. Trong đó, có 21 dự án DDI, với số vốn đầu tư đăng ký là 2.457 tỷ đồng (bao gồm: 1.832 tỷ đồng đăng ký mới và 625 tỷ đồng đăng ký điều chỉnh bổ sung), so với cùng kỳ, tăng 110% về dự án và tăng 89% về vốn đăng ký, so với kế hoạch, đạt 140% về dự án, đạt 164% về vốn đăng ký; và 18 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư 182,1triệu USD (bao gồm: 144,4 triệu USD đăng ký mới; 37,7 triệu USD điều chỉnh bổ sung tăng), so với cùng kỳ tăng 200% về dự án, tăng 9% về vốn đăng ký; so với kế hoạch đạt 120% về dự án, đạt 101% về vốn đăng ký. Luỹ kế đến hết sáu tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh có 712 án đầu tư còn hiệu lực gồm: 158 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký là 2.930 triệu USD, vốn thực hiện ước đạt 1.412 triệu USD, đạt 48,2% tổng vốn đầu tư đăng ký và 554 dự án DDI với tổng số vốn đăng ký là 33.711 tỷ đồng vốn thực hiện ước đạt 13.861 tỷ đồng, đạt 41,1% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 7.258 tỷ đồng. Trong tổng số, nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 1.974 tỷ đồng; vốn ngoài Nhà nước 4.331 tỷ đồng, trong đó vốn của các tổ chức doanh nghiệp đạt 558 tỷ đồng, vốn đầu tư của dân cư đạt 3.773 tỷ đồng.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

a) Sản xuất nông nghiệp

+ Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng vụ đông xuân năm 2014 giảm nhẹ so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm chủ yếu do một số diện  tích chuyển mục đích sử dụng để xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn mới, một số diện tích chuyển đổi sang trồng cây lâu năm, thủy sản... Đầu vụ thời tiết không thuận lợi, rét đậm, rét hại kéo dài làm một số diện tích lúa mới cấy bị chết phải dặm lại, đồng thời kéo dài thời gian sinh trưởng của cây lúa từ 7-10 ngày. Tuy nhiên, trong thời gian từ lúc cây lúa đứng cái đến chín thời tiết thuận lợi, trời nắng ấm liên tục giúp cây lúa tích ôn, trổ - chín nhanh hơn, đây là yếu tố chính để lúa vụ đông xuân năm nay tiếp tục đạt năng suất cao.

Kết quả sơ bộ sản xuất vụ đông xuân năm 2014 như sau:

- Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 62,51 ngàn ha, giảm 0,15% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa đạt 30,83 ngàn ha, giảm 0,23% so cùng kỳ; ngô đạt 13,47 ngàn ha, giảm 5,47%; khoai lang đạt 2,52 ngàn ha, tăng 10,39%; rau các loại đạt 7,13 ngàn ha, tăng 18,33% so cùng kỳ năm trước...

- Sơ bộ năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu: Năng suất lúa đông xuân 201 đạt 60,37 tạ/ha, tăng tăng 0,12% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 186,13 ngàn tấn, giảm 0,10% so cùng kỳ; ngô đạt 42,49 tạ/ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 57,24 ngàn tấn, giảm 3,38%; khoai lang đạt 102,25 tạ/ha, tăng 2,72%, sản lượng đạt 25,75 ngàn tấn, tăng 13,40%; rau các loại đạt 204,39 tạ/ha, tăng 8,16%, sản lượng đạt 145,81 ngàn tấn, tăng 27,98% so cùng kỳ.

+ Chăn nuôi: Trong sáu tháng đầu năm, chăn nuôi tiếp tục gặp khó khăn do giá thức ăn cao, giá bán các loại sản phẩm không ổn định, một số loại sản phẩm thấp hơn giá thành sản xuất và kéo dài nhiều tháng, làm ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động. Dịch bệnh bùng phát ở một số địa phương trong cả nước ảnh hưởng đến tâm lý người chăn nuôi trong tỉnh. Do công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được tích cực triển khai nên 6 thấng đầu năm trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh lớn như: Cúm gia cầm, Dịch Lở mồm long móng gia súc và Dịch Tai xanh lợn đàn gia súc, gia cầm cơ bản giữ được ổn định.

Để chủ động phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gia súc, gia cầm, bảo vệ sản xuất chăn nuôi. Toàn tỉnh đã tổ chức tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm và khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn nuôi đợt I năm 2014. Các địa phương trong tỉnh đã hoàn thành tiêm phòng và phun thuốc khử trừng tiêu độc.

b) Sản xuất lâm nghiệp

Sáu tháng đầu năm, các đơn vị có sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trồng đ­ược 761 ha rừng tập trung, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, rừng sản xuất 720 ha, rừng phòng hộ 30 ha, rừng đặc dụng 11 ha. Diện tích rừng được chăm sóc lần 1 là 402 ha, giảm 32,55% so với cùng kỳ. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 9.053 ha, giảm 4,92% so với cùng kỳ, do dự án trồng rừng của tỉnh được giao kế hoạch khoán bảo vệ rừng giảm.

Công tác phòng chống cháy rừng đã đ­ược các cấp các ngành chỉ đạo tích cực đến các địa phương. Tuy nhiên, tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ cháy rừng, với diện tích cháy 17,57 ha, so với cùng kỳ số vụ cháy tăng 9 vụ, diện tích cháy tăng 11,57 ha, chủ yếu là rừng sản xuất. Số vụ cháy rừng tập trung nhiều vào cuối tháng 1 đến hết tháng 2, xảy ra 10 vụ cháy, do thời tiết hanh khô kéo dài, độ ẩm trong không khí thấp kết hợp với nhiều đợt gió mùa Đông Bắc thổi tạo điều kiện phát sinh các đám cháy; tháng Năm phát sinh thêm 01 vụ.

c) Sản xuất thuỷ sản

Hiện nay, toàn tỉnh có 9.093 cơ sở nuôi trồng thủy sản và có 549 cơ sở sản xuất giống. So với cùng kỳ, số cơ sở sản xuất giống giảm 47 cơ sở, nguyên nhân giảm do một số hộ có diện tích ít chuyển mục đích sử dụng, dồn ghép diện tích, ngoài ra một số huyện thu hồi đất xây dựng các công trình phục vụ nông thôn mới. Diện tích nuôi trồng sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 5.328,7 ha giảm 0,57% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích nuôi cá 5.184 ha; diện tích nuôi trồng thuỷ sản khác như ếch, ba ba, cá sấu 6,7 ha; diện tích ươm giống 138 ha.

Giá thủy sản trên thị trường khá ổn định ở mức cao, có lợi cho người nuôi trồng nên bà con tích cực nuôi thả và tập trung thâm canh nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tổng sản lượng thuỷ sản sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 9.176,5 tấn, tăng 3,94% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 909,8 tấn, tăng 0,85%; sản lượng nuôi trồng đạt 8.266,7 tấn, tăng 4,30% so với cùng kỳ.

5. Sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh sáu tháng đầu năm tuy có tăng so cùng kỳ, nhưng ở mức thấp. Một mặt là do nền kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn, mặt khác sản lượng sản phẩm của một số ngành công nghiệp chủ lực đóng góp chính cho tăng trưởng của ngành cũng như mức tăng chung của tỉnh đạt thấp, tình hình tiêu thụ sản phẩm chậm, chỉ số hàng tồn kho ở mức cao ảnh hưởng đến mức tăng chung của ngành. Dự kiến, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh sáu tháng đầu năm tăng 0,01% so cùng kỳ năm trước. Theo ngành kinh tế cấp 1: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,77%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,16%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 19,22%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 11,12%. Tình hình cụ thể từng ngành như sau:

- Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,77% so với cùng kỳ, các doanh nghiệp trong ngành đã chủ động hơn trong việc khai thác cũng như cung cấp đến tận chân công trình các loại đất đá phù hợp với nhu cầu sử dụng của các công trình xây dựng lớn nhỏ trong và ngoài tỉnh, do đó thúc đẩy được quá trình sản xuất, tạo ra giá trị sản xuất ngành tăng so cùng kỳ;

 - Ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm12,39% so với cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm một mặt do nhu cầu sử dụng các loại thực phẩm không tăng, mặt khác do một số doanh nghiệp lớn trong ngành chuyển địa bàn hoạt động sang các tỉnh lân cận, do đó ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất và tiêu thụ chung của ngành, kéo theo việc chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ;

- Ngành dệt tăng 25,00% so với cùng kỳ. Sản phẩm trong ngành luôn thay đổi theo nhu cầu thị trường cũng như tập trung sản xuất các sản phẩm theo mùa, vụ nên đáp ứng tốt và kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh, tạo ra chỉ số tăng khá so cùng kỳ;

- Ngành sản xuất trang phục tăng 0,94% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của các đối tác nước ngoài như Đài Loan Hàn Quốc. Sáu tháng đầu năm lượng đơn đặt hàng tăng hơn so cùng kỳ, sản phẩm sản xuất của ngành bảo đảm tiêu chí nhanh - bền - đẹp, đáp ứng được nhu cầu cũng như thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nước, điều đó giúp cho chỉ số phát triển của ngành tăng;

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 3,15% so với cùng kỳ. Cùng nỗ lực để đưa sản phẩm "đi xa hơn, tiến sâu hơn" vào thị trường không chỉ trong nước mà cả một số nước trong khu vực, là việc cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, nhằm vào tiêu chí phục vụ khách hàng là chính. Nên sản phẩm của ngành ngày càng tạo được dấu ấn với khách hàng, góp phần vào việc tăng giá trị sản xuất cho ngành;

- Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng 54,31% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng từ các đối tác nước ngoài như Samsung, Apple. Sáu tháng đầu năm lượng đơn đặt tăng cao so cùng kỳ, tạo ra công việc ổn định cho một lượng lớn công nhân, nâng cao uy tín với thị trường nước bạn trong lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, tạo ra giá trị tăng cho ngành;

- Ngành sản xuất xe có động cơ tăng19,22% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất phương tiện vận tải  giảm 6,20% so với cùng kỳ. Đây là ngành có đóng  góp lớn vào sự phát triển kinh tế của tỉnh. Bên cạnh nhu cầu tiêu thụ ô tô ngày càng cao thì nhu cầu tiêu thụ xe máy trong dân đang ở mức bão hoà, lượng xe máy quá nhiều dẫn đến tình trạng tiêu thụ trong nước giảm. Hiện nay các doanh nghiệp trong ngành đang tập chung vào việc đẩy nhanh việc xuất khẩu xe máy sang thị trường một số nước như Nhật bản, Thái Lan, Hàn Quốc tạo đà để sản xuất tăng, nhằm đem lại giá trị sản xuất cao cho toàn ngành công nghiệp của tỉnh;

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt tăng19,22% so cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 11,12% so cùng kỳ. Do thời tiết vào hè, nhiệt độ trung bình tăng hơn so với các năm nên nhu cầu sử dụng điện, nước tăng cao so cùng kỳ.

Dự kiến, tháng 6, các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn sản xuất được 20.808 m3 đá các loại, tăng 4,69% so với tháng trước; 223 tấn chè các loại, tăng 26.58%; 12.152 tấn thức ăn gia súc, tăng 13,05%; 4.508 ngàn quần áo mặc thường, tăng 14,91%; 7.022 ngàn m2 gạch ốp lát, tăng 1,57%; 83.036 ngàn viên gạch xây dựng bằng đất sét, tăng 5,44%; 3.816 xe ô tô các loại, tăng 13,54%; 218.784 xe máy các loại, tăng 3,20% so tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn sản xuất được 118.931  m3 đá các loại, tăng 13,62% so với cùng kỳ; 4.473 tấn chè các loại, giảm 22,7%; 62.331 tấn thức ăn gia súc, giảm 8,19%; 21.652 ngàn quần áo mặc thường,  tăng 0,94%; 37.679 ngàn m2 gạch ốp lát, tăng 14,41%; 436.293 ngàn viên gạch xây dựng bằng đất sét, tăng 6,69%; 18.240 xe ô tô các loại, tăng 19,22%; 1.141.180 xe máy các loại, giảm 6,20%; điện thương phẩm 819 triệu kwh, tăng 19,22%; nước thương phẩm 5.845 ngàn m­3, tăng  5,35%.

6. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tình hình kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh ổn định, kết quả lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tăng khá, đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Lực lượng tham gia kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn tăng góp phần làm cho lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ổn định và tăng so cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 16.195 tỷ đồng, tăng 22,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh tế nhà nước tăng 2,43 lần; kinh tế tập thể tăng 0,51%; kinh tế cá thể tăng 9,59%; kinh tế tư nhân tăng 38,18% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,39 lần so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo nhóm ngành kinh tế, ngành thương nghiệp thực hiện đạt 14.064 tỷ đồng, tăng 21,73% so với cùng kỳ; kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống 1.341 tỷ, tăng 26,81% và các ngành dịch vụ khác thực hiện 790 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ.

b) Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thời gian qua, cùng với ban hành nhiều cơ chế, chính sách, Vĩnh Phúc đã đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư; các đồng chí lãnh đạo tỉnh trực tiếp tham gia nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, thực hiện chính sách thu hút các nguồn vốn trong nước đưa vào sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.  

Dự kiến sáu tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đạt 631.527 ngàn USD, tăng 57,58% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước xuất khẩu 746 ngàn USD, giảm 41,26%; kinh tế tư nhân 45.480 ngàn USD, giảm 2,46%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 585.300 ngàn USD, tăng 65,87% so với cùng kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong kỳ là: hàng điện tử 237.073 ngàn USD, chiếm 37,53%; 211,1 ngàn chiếc xe máy (kể cả linh kiện đồng bộ), giá trị đạt 154.130 ngàn USD tăng 43,61% về lượng và 43,51% về giá trị; hàng dệt may 100.900 ngàn USD, tăng 1,99%; chè 22.368 ngàn USD, chiếm 3,49% tổng giá trị xuất khẩu. Nguyên nhân tăng, do một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có nhiều giải pháp tăng cường tìm kiếm thị trường và ký được nhiều đơn hàng với thị trường xuất khẩu ổn định, tập trung chủ yếu vào các nước: Hoa Kỳ, EU, Nga, Asean, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Sáu tháng đầu năm, nhập khẩu dự kiến đạt 896.815 ngàn USD tăng 13,23% so với cùng kỳ năm 2013. Hàng nhập khẩu chủ yếu trong Các mặt hàng nhập khẩu chính là máy móc, thiết bị tài sản cố định; nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và nguyên liệu để sản xuất hàng tiêu thụ trong nước; các nguyên vật liệu để gia công sản xuất như: linh kiện, phụ tùng ô tô, xe máy, sắt thép, vải may mặc, hàng điện tử.

c) Vận tải hành khách và hàng hoá

Sáu tháng đầu năm, các đơn vị vận tải đã chuẩn bị tốt cả về số lượng và chất lượng các phương tiện vận chuyển, hoạt động vận tải đã đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân.

Tổng khối l­ượng hàng hoá vận chuyển trên địa bàn tỉnh sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 13.589 ngàn tấn, luân chuyển 938,2 triệu tấn.km, tăng 2,29% về tấn và tăng 0,87% về tấn.km so với cùng kỳ năm trư­ớc. Khối l­ượng hành khách vận chuyển trên địa bàn tỉnh đạt 13.178 ngàn ngư­ời, luân chuyển 760,6 triệu ngư­ời.km, tăng 5,47% về người và tăng 7,80% về người.km so cùng kỳ năm trước. Tổng doanh dự kiến đạt 1.565,4 tỷ đồng, tăng 22,76% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 414,1 tỷ đồng, tăng 33,14%; vận tải hàng hoá đạt 1.148,6 tỷ đồng, tăng 19,44% so với cùng kỳ.

Đầu tháng 6, Bộ Giao thông vận tải tổ chức lễ khánh thành cầu Vĩnh Thịnh bắc qua sông Hồng có chiều dài 5.487m nối liền thị xã Sơn Tây của Hà Nội với huyện Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc, kết nối trung tâm Thủ đô với các tỉnh phía Tây Bắc như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang; đồng thời góp phần giảm áp lực giao thông cho các trục đường hướng tâm như Quốc lộ 2, Quốc lộ 3, Quốc lộ 6, Quốc lộ 32 khi lưu thông qua trung tâm thành phố Hà Nội đi các tỉnh phía nam và ngược lại; đây cũng là một trong những yếu tố tạo đà cho sự phát triển về kinh tế, văn hoá của tỉnh.

d) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 tăng 0,08% so với tháng trước; tăng 3,22% so vớí cùng tháng năm trước và tăng 0,84% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, CPI tăng 6,85% so với cùng kỳ năm trước, đây là một tín hiệu lạc quan CPI sẽ giữ được mức ổn định  trong năm nay.

Hàng hoá tiêu dùng trên địa bàn phong phú, đa dạng, đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân, giá cả phần lớn không có nhiều biến động. Diễn biến giá của các nhóm hàng chính trong tháng Sáu như sau:

- Chỉ số giá của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống trong tháng bắt đầu có xu hướng tăng nhẹ. Chỉ số chung của cả nhóm tăng 0,06% so với tháng trước và tăng 4,31% so với cùng kỳ. Mặc dù giá hàng lương thực trong tháng vẫn tiếp tục giảm, song giá một số mặt hàng thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng nhẹ đã đẩy chỉ số chung của cả nhóm tăng;

- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%. Thời tiết nắng nóng, nhu cầu giải khát của người dân tăng mạnh, nhất là ở mặt hàng bia tăng từ 1,11 đến 1,78%;

- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13%. Chỉ số nhóm hàng tăng chủ yếu ở mặt hàng mũ, nón lá mùa hè. Do đã vào mùa nắng nóng nhu cầu sử dụng mặt hàng này của người dân tăng;

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,24%. Chỉ số nhóm này chủ yếu tăng ở các mặt hàng vật liệu xây dựng tăng do nhu cầu xây dựng và chi phí vận chuyển tăng. Cụ thể giá xi măng, cát, đá dăm tăng 0,24%; gạch đặc, gạch ống, gạch lát nền tăng 0,90%. Do tác động giá gas thế giới tăng, giá gas trong nước đồng loạt tăng từ 1/6/2014. Chỉ số giá gas trên địa bàn tăng 0,51%, đây là lần tăng giá gas thứ hai kể từ đầu năm 2014 với tổng mức tăng 13.000đ/bình 12kg;

- Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,41%. Do những ngày hè, nhu cầu đi tham quan du lịch trong nước của người dân tăng cao nên các tua du lịch đều tăng giá, công suất sử dụng phòng nhà nghỉ, khách sạn đều tăng hơn. Nên chỉ số nhóm này tăng;

 - Một số nhóm hàng còn lại giá tương đối ổn định.

Giá vàng trên địa bàn tỉnh tháng Sáu giảm nhẹ (giảm 0,94%) so với tháng trước, giá vàng bình quân trên thị trường tự do là 3.357 nghìn đồng/chỉ. Ngược chiều với giá vàng, giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do có sự tăng nhẹ (tăng 0,22%) so với tháng trước theo mức tăng chung của cả nước, giá bán bình quân phổ biến ở mức 21.173 đồng/USD.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Công tác giải quyết lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội

+ Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm được chú trọng, đã tổ chức triển khai có hiệu quả các nội dung của Nghị quyết số 37/NQ-HĐND ngày 19/12/2011 của HĐND tỉnh về một số chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo giai đoạn 2012-2015. Tổ chức tốt các sàn giao dịch việc làm, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ cho các lao động đi xuất khẩu, thực hiện chương trình xuất khẩu lao động, trong đó tập trung vào thị trường có tiềm năng như Hàn Quốc, Nhật Bản... Sáu tháng đầu năm, tỉnh đã giải quyết việc làm cho 11.880 lao động, tăng 16,7% so cùng kỳ và đạt 56,6% so với kế hoạch năm. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp 5.706 người; nông nghiệp 2.643 người; thương mại - dịch vụ 2.773 người và xuất khẩu lao động đạt 550 người (tăng 284 người so với cùng kỳ và đạt 55% so với kế hoạch).

Công tác dạy nghề tiếp tục được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành. Chất lượng dạy và học không ngừng được nâng cao. Tham gia Hội thi tay nghề quốc gia năm 2014, Đoàn Vĩnh Phúc 01 giải nhất, 02 giải ba và 09 giải khuyến khích, xếp thứ 3 toàn đoàn (sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh).

+ Về tình hình sử dụng lao động nước ngoài: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 713 lao động nước ngoài làm việc tại 123 doanh nghiệp, trong đó có 210 lao động là người Trung Quốc, Đài Loan. Tỉnh đã chỉ đạo tốt các biện pháp tuyên truyền, vận động, bảo đảm an ninh trật tự, nên người lao động nước ngoài nhất là lao động Trung Quốc và Đài Loan được đảm bảo an toàn, yên tâm lao động sản xuất.

+ Công tác bảo đảm an sinh xã hội: Chế độ, chính sách cho các đối tượng chính sách, gia đình khó khăn được các cấp, các ngành quan tâm chăm lo và thực hiện nghiêm theo quy định. Tỉnh đã tổ chức trao quà của Chủ tịch nước đến các đối tượng là người có công với 26.062 xuất quà trị giá trên 5,3 tỷ đồng và trích trên 15 tỷ đồng từ ngân sách để tặng quà cho các đối tượng chính sách, người có công, người nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Phong trào đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, các quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo tiếp tục được triển khai thực hiện.

+ Hoạt động bảo trợ xã hội, giảm nghèo tiếp tục được quan tâm, chú trọng. Đến hết tháng 5/2014, có 1.550 người được hưởng bảo hiểm thất nghiệp (tăng 345 người so với cùng kỳ năm 2013), cấp 13.696 giấy chứng nhận hộ nghèo năm 2014; hỗ trợ tiền điện cho 13.696 hộ nghèo, với tổng kinh phí trên 2,4 tỷ đồng đảm bảo theo đúng quy định. Gần 6 nghìn hộ hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên, được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội với tổng kinh phí vay đạt 228,09 tỷ đồng.

2. Tình hình an ninh và trật tự an toàn xã hội

An ninh chính trị đảm bảo ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Lực lượng Công an đã nắm chắc tình hình tại các địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự, không để phát sinh các “điểm nóng”. Ngay khi xẩy ra sự kiện trên biển Đông, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ quan điểm, chủ trương, đường lối, biện pháp đấu tranh của Đảng, Nhà nước ta; chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tổng thể các biện pháp, không để xảy ra tập trung đông người, lợi dụng tình hình để vi phạm pháp luật; UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị với tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn để thông báo về chủ trương của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo của tỉnh về các biện pháp an toàn cho các doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh. 

Công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm được chỉ đạo thực hiện đồng bộ. Số vụ phạm pháp hình sự giảm 7,94%, điều tra làm rõ đạt 84,7% tổng số vụ phạm pháp hình sự và 100% số vụ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Các vi phạm pháp luật về môi trường ngăn chặn cơ bản nhất là tình trạng khai thác đất, cát, sỏi trái phép trên địa bàn. Công tác quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội được tăng cường.

3. Giáo dục và đào tạo

Sáu tháng đầu năm, UBND tỉnh đã tích cực chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành trung ương Đảng, khóa XI về Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ’’; xây dựng Đề án dạy và học Ngoại ngữ đến năm 2020; hoàn thiện việc sáp nhập Trung tâm đào tạo nghề và trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện; thực hiện việc đổi mới công tác đào tạo và dạy nghề gắn với nhu cầu thị trường ngay từ khâu xây dựng và giao chỉ tiêu kế hoạch.

Chất lượng giáo dục cả đại trà và mũi nhọn tiếp tục được giữ vững và ổn định ở mức cao. Kết thúc năm học 2013-2014, tỷ lệ học sinh tiểu học được xét tốt nghiệp đạt 100%, THCS đạt 99,7% cao hơn năm học 2012-2013. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014 diễn ra an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế. Kết quả toàn tỉnh có 12.337/12.544 thí sinh đỗ tốt nghiệp đạt tỷ lệ  98,34%. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm nay toàn tỉnh có 12.292 học sinh tham gia với 03 môn Toán, Văn, Tiếng Anh vào 02 ngày 19 và 20/6. Khối thi chuyên ngoài 03 môn bắt buộc sẽ phải dự thi thêm môn chuyên với tổng cộng là 04 môn thi vào ngày 24 và 25/6. Kỳ thi đại học, cao đẳng năm 2014, toàn tỉnh có trên 14.240 hồ sơ đăng ký dự thi , giảm gần 6.120 hồ sơ so với năm học 2013, trong đó hồ sơ dự thi đại học chiếm 84%.

4. Y tế

Trước những diễn biến phức tạp của bệnh sởi trên phạm vi cả nước, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các cơ sở y tế chủ động giám sát, nhằm phát hiện sớm ca bệnh, cách ly, xử lý ổ dịch kịp thời; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, rà soát, thống kê các đối tượng chưa tiêm hoặc đã tiêm vắc xin sởi nhưng chưa đầy đủ để có kế hoạch tiêm bổ sung, hạn chế thấp nhất các trường hợp biến chứng, tai biến do chủ quan. Tỉnh đã trích 15,55 tỷ đồng để mua 10.000 tấn thuốc Cloramin B, đầu tư 10 máy thở cho người lớn và trẻ em, 15 hệ thống hỗ trợ thở cho các bệnh viện tuyến tỉnh, một số bệnh viện tuyến huyện và các vật tư, hóa chất khác. Tổ chức tiêm phòng vét vắc xin sởi cho đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi (được 5.396 trẻ tiêm mũi 1, đạt 95,9% và được 6.833 trẻ tiêm mũi 2, đạt 97,6%); tiến hành tiêm bổ sung vắcxin sởi cho trẻ từ 2 đến dưới 10 tuổi, phun khử trùng tại các hộ có bệnh nhân, bệnh viện, trường học. Đến nay, bệnh sởi và sốt phát ban nghi sởi đã cơ bản được khống chế, số ca mới mắc giảm. Tính đến ngày 01/6/2014, trên địa bàn tỉnh có 1.123 người mắc bệnh sởi hoặc sốt phát ban nghi sởi tại 132 xã, phường, thị trấn, trong đó đã 7 người tử vong liên quan đến sởi.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được duy trì thường xuyên, sáu tháng đầu năm đã kiểm tra 1.950 cơ sở, trong đó số cơ sở đạt tiêu chuẩn chất lượng ATVSTP là 1.385 (đạt tỷ lệ 71%). Các chương trình mục tiêu quốc gia về Y tế được triển khai thực hiện và đã được kết quả bước đầu; đến nay có 24/137 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2013- 2020 đạt tỷ lệ 17,5%. Công tác phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tiếp tục được triển khai có hiệu quả.

5. Các hoạt động văn hoá và thể thao

Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hoá - thông tin được tăng cường. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tiếp tục được củng cố. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được chú trọng thực hiện và đạt kết quả tốt. Việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 11- CT/TU ngày 18/10/2012 của Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, tổ chức các ngày kỷ niệm, không uống rượu, bia trong ngày làm việc, không hút thuốc lá nơi công sở và Quyết định số 52/2012/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của UBND tỉnh thực hiện Chỉ thị số 11- CT/TU ngày 18/10/2012 của Tỉnh ủy được thực hiện nghiêm túc và đi vào nề nếp. Phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tiếp tục được triển khai, thực hiện.

Công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, vui chơi giải trí, tổ chức lễ hội truyền thống để chào mừng các ngày lễ của đất nước, của tỉnh diễn ra sôi nổi, rộng khắp, tiết kiệm, đúng quy định và lành mạnh. Các thiết chế văn hoá thể thao gắn với thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới tiếp tục được ưu tiên tập trung đầu tư, nhất là 17 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2014. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được đẩy mạnh. 

Phong trào thể dục thể thao quần chúng được nâng cao cả về chất lượng và số môn tập luyện. Trên địa bàn tỉnh hiện có 310 CLB thể thao và 90% thôn, làng, tổ dân phố đã có sân luyện tập thể thao với 30% dân số tham gia tập luyện TDTT thường xuyên; 78% số trường phổ thông có hoạt động TDTT ngoại khoá đạt chất lượng. Các giải thể thao quần chúng được tổ chức thường xuyên từ tỉnh đến cơ sở cho nhiều đối tượng, môn thể thao khác nhau hình thành giải truyền thống hàng năm. Thể thao thành tích cao được quan tâm; tham gia thi đấu 15 giải trong nước và quốc tế, kết quả đạt 74 huy chương các loại, trong đó có 11 huy chương vàng.

Phát thanh truyền hình, xuất bản các ấn phẩm được quan tâm, cải thiện cả về hình thức và nội dung đáp ứng tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh và góp phần nâng cao dân trí của nhân dân./

(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc)

Các tin đã đưa ngày: