Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2014

25/04/2014

                1. Về tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Quí I năm 2014 tăng 2,98% so với Quí I năm 2013. Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 6,44% so cùng kỳ (đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,56 điểm %); giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 2,27% (đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 1,54 điểm %), riêng ngành công nghiệp tăng 1,77%; giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng 5,8% (đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 1,12 điểm %); thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ giảm 6,11% so cùng kỳ năm 2013 (làm giảm mức tăng trưởng chung của tỉnh là -0,24 điểm %).

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Sản xuất nông nghiệp

+ Trồng trọt:

- Sản xuất vụ đông: Tuy giá cả vật tư, phân bón vẫn ở mức cao, nhưng diện tích gieo trồng vụ đông 2013 - 2014 tiếp tục tăng so cùng kỳ. Nguyên nhân do, HĐND Tỉnh có Nghị quyết hỗ trợ vùng sản xuất hàng hóa giai đoạn 2012 - 2015, theo đó Quyết định hỗ trợ phát triển sản xuất vụ đông của UBND tỉnh đã khuyến khích được cho bà con nông dân tăng diện tích gieo trồng. Tổng diện tích gieo trồng vụ đồng năm 2013 - 2014 đạt 20.387 ha, tăng 2,40% so với cùng kỳ. Diện tích một số cây trồng chủ yếu: rau các loại 4.618 ha, tăng 27,85% so với cùng kỳ, do năm nay một số loại rau củ quả năng suất cao, đầu vụ bán được giá, hiệu quả kinh tế cao nên bà con nông dân mở rộng diện tích. Trong các loại rau củ quả, bí đỏ là loại rau quả có năng suất cao, chất lượng được thị trường ưa chuộng nên diện tích đạt 1.195 ha, chiếm 25,88% diện tích rau các loại và tăng 247,10%; khoai lang đạt 2.238 ha, tăng 13,09%; cây ngô đạt 11.093 ha, giảm 6,24%; đậu tương đạt 1.939 ha, giảm 6,82% so với cùng kỳ năm trước...

Kết quả thu hoạch một số cây vụ đông như sau: Năng suất ngô đạt 41,59 tạ/ha, tăng 2,29% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 46.132 tấn, giảm 4,11%; khoai lang đạt 104,32 tạ/ha, tăng 2,83%, sản lượng đạt 23.343 tấn, tăng 16,27%; đậu tương đạt 17,29 tạ/ha, tăng 3,04%, sản lượng đạt 3.352 tấn, giảm 3,98%; rau các loại đạt 213,68 tạ/ha, tăng 13,60%, sản lượng đạt 98.672 tấn, tăng 45,25% so với cùng kỳ năm 2013.

- Gieo trồng vụ xuân: Sản xuất vụ xuân 2014 được đặc biệt quan tâm. Ngày 14 tháng 01 năm 2014, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 01/CT-CT yêu cầu Sở Nông nghiệp & PTNT chủ động phối hợp với các huyện, thành, thị và các ngành liên quan xây dựng kế hoạch tưới; rà soát diện tích có nguy cơ bị hạn để xây dựng phương án khắc phục; đề xuất chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với tình trạng thiếu nước.

+ Chăn nuôi: Chăn nuôi gia súc, gia cầm được duy trì ổn định, đáp ứng được nhu cầu thực phẩm tăng cao, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán. Trước tình hình dịch cúm gia cầm ở một số địa phương trên cả nước đang diễn biến hết sức phức tạp, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo quyết liệt trong việc tăng cường công tác phòng chống và sẵn sàng ứng phó với dịch cúm AH5N1, H7N9 và các chủng virut cúm từ gia cầm lây sang người. Đồng thời, chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát chặt chẽ hoạt động giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm. Đến nay không có dịch bệnh bùng phát trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, người chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn do giá tiêu thụ sản phẩm giảm, giá thức ăn tăng; sức tiêu thụ giảm.

b) Sản xuất lâm nghiệp

Quí I năm 2014, các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh và các địa phương chủ yếu tập trung chăm sóc cây giống đã ươm, khảo sát thực địa, làm công tác chuẩn bị và trồng rừng tập trung theo kế hoạch. Công tác phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành và các địa phương chỉ đạo triển khai tích cực, song do thời tiết hanh khô kéo dài, độ ẩm trong không khí thấp nên trong quí I đã xảy ra 10 vụ cháy rừng tăng 9 vụ so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng bị cháy 17,37 ha, chủ yếu xảy ra trong tháng Một và đầu tháng Hai.

c) Sản xuất Thuỷ sản

Trong Quí I, giá thủy sản tiếp tục ổn định ở mức cao, nhu cầu tiêu thụ tăng nên đã thúc đẩy nuôi trồng thủy sản phát triển. Trong quí, bà con nuôi trồng thủy sản tích cực thu hoạch và chuẩn bị cho vụ nuôi trồng mới. Dự kiến đến hết Quí I, diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 4.705 ha, giảm 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích nuôi trồng giảm là do, trước và sau Tết thời tiết rét đậm, rét hại nên vụ nuôi trồng mới chậm lại. Tuy diện tích nuôi trồng giảm nhưng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng vẫn tăng so với cùng kỳ, do các hộ nuôi trồng tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vùng nuôi tập trung thâm canh. Dự kiến sản lượng thủy sản nuôi trồng trong Quí I đạt 3.941 tấn, tăng 5,01% so với cùng kỳ.

3. Sản xuất công nghiệp

Tháng Ba, qua thời gian nghỉ tết và bảo dưỡng dây chuyền thiết bị máy móc một số doanh nghiệp đã bắt đầu sản xuất trở lại nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong năm 2014, đã tạo cho chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng này tăng cao so với tháng trước (tăng 36,88%) và tăng khá so với cùng kỳ (tăng 12,85%). Chia theo ngành kinh tế cấp I, chỉ số sản xuất tăng, giảm tương ứng so với tháng Hai và cùng kỳ là: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 23,14% và tăng 6,34%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 37,30% và 12,93%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,40% và 3,76%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,45% và 8,31%. Tính chung cả Quí I, chỉ số sản xuất tăng 1,73% so cùng kỳ.

Tháng Ba, dự kiến các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh sản xuất được 23.934m3 đá các loại, tăng 17,92% so với tháng trước; 1.357 tấn chè các loại, tăng 12,5%; 11.653 tấn thức ăn gia súc, tăng 27,55%; 4.265 ngàn quần áo mặc thường, tăng 54,99%; 6.337 ngàn m2 gạch ốp lát, tăng 36,46%; 77.235 ngàn viên gạch xây dựng bằng đất sét, tăng 33,94%; 2.832 xe ô tô các loại, tăng 54,50%; 245.640 xe máy các loại, tăng 33,21%... Tính chung ba tháng đầu năm, các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh sản xuất được 56.994 m3 đá các loại, giảm 5,32% so với cùng kỳ; 3.913 tấn chè các loại, tăng 3,62%; 32.435 tấn thức ăn gia súc, giảm 2,42%; 10.309 ngàn quần áo mặc thường, tăng 12,89%; 16.768 ngàn m2 gạch ốp lát, tăng 14,42%; 205.266 ngàn viên gạch xây dựng bằng đất sét, tăng 11,49%; 7.626 xe ô tô các loại, tăng 12,36%; 624.911 xe máy các loại, giảm 1,96% ...

4. Đầu tư, xây dựng

a) Thực hiện vốn đầu tư phát triển

Quí I năm 2014 là quí có số ngày nghỉ tết kéo dài, số ngày làm việc ít nên số công trình đang thi công chủ yếu là công trình đang ở giai đoạn hoàn thiện, công trình chuyển tiếp, số công trình, dự án khởi công mới chưa nhiều nên tổng vốn đầu tư trong quí đạt thấp. Dự kiến, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Quí I đạt 3.279 tỷ đồng, giảm 27,69% so Quí IV năm 2013 và tăng 5,30% so với cùng kỳ. Chia theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 2.648 tỷ đồng; vốn mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh không qua xây dựng cơ bản đạt 58 tỷ đồng; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định 151 tỷ đồng;vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 50 tỷ đồng và vốn đầu tư khác 373 tỷ đồng.

b) Hoạt động thu hút đầu tư

+ Về thu hút đầu tư: Trong Quí I, đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 22 dự án. Bao gồm: 13 dự án DDI, với số vốn đầu tư đăng ký là 1.327,5 tỷ đồng (gồm 884,1 tỷ đồng cấp mới và 443,4 tỷ đồng điều chỉnh tăng vốn). So với cùng kỳ, bằng 216,7% về dự án, tăng trên 8,8 lần về vốn đầu tư; so với kế hoạch, đạt 86,7% về dự án, đạt 88,5% về vốn đăng ký; và 09 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư 116,3 triệu USD (gồm 106,3 triệu USD cấp mới và 10,0 triệu USD điều chỉnh tăng vốn) đạt 64,6% kế hoạch.

+ Tình hình triển khai dự án: Quí I năm 2014, có thêm 09 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh (gồm 03 dự án FDI và 06 dự án DDI). Lũy kế đến hết Quí I năm 2014 trên địa bàn tỉnh có 335 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, bằng 48,1% tổng số dự án đầu tư (gồm: 115 dự án FDI và 220 dự án DDI); còn lại 362 dự án đang triển khai xây dựng, san nền, bồi thường, GPMB và một số dự án mới được cấp chứng nhận đầu tư.

5. Tài chính, ngân hàng

a) Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách đạt kết quả cao. Tính đến 12/3/2014, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 4.236,8 tỷ đồng, đạt 23,78% dự toán năm. Trong đó, thu nội địa đạt 3.729,3 tỷ đồng, đạt 25,90% dự toán năm. Chi ngân sách địa phương đáp ứng kịp thời nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tính đến 12/3/2014, tổng chi ngân sách địa phương đạt 3.066,6 tỷ đồng, đạt 32% so dự toán HĐND giao.

b) Hoạt động ngân hàng, tín dụng

Dự kiến đến 31/3/2014, tổng nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 25.750 tỷ đồng tăng 31,5% so với cùng kỳ năm 2013, tăng 0,55% so với cuối năm 2013.

Dòng vốn tín dụng trên địa bàn tiếp tục được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và các dự án hiệu quả. Tăng trưởng tín dụng Quí I năm 2014 tuy có giảm nhẹ so với năm 2013 nhưng hiệu quả và chất lượng tín dụng ngày càng được cải thiện, ước tổng d­ư nợ cho vay đạt 22.345 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ và giảm 1,87% so với cuối năm 2013, trong đó dư nợ cho vay 5 lĩnh vực ưu tiên ước đạt 13.130 tỷ đồng, chiếm 59% tổng dư nợ. Ước nợ xấu chiếm 3,15% trên tổng dư nợ (cùng kỳ năm trước tỷ lệ này là 2,91%).

6. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tình hình bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quí I năm 2014 diễn ra  sôi động, nhân dân tập trung nhiều cho mua sắm hàng tiêu dùng trong dịp tết Nguyên đán nên hàng hoá tiêu thụ mạnh vào những ngày cuối tháng Một. Sau tết, tình hình bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng có giảm hơn, song do nhu cầu tiêu dùng cần thiết của nhân dân mà lượng hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng vẫn giữ mức ổn định. Mặt khác, trong những năm qua địa phương đã có chính sách về phát triển thương mại, du lịch và dịch vụ. Lực lượng tham gia kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn tăng  góp phần làm cho lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ổn định và tăng so cùng kỳ.

Dự kiến, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ Quí I năm 2014 đạt 8.355 tỷ đồng, tăng 21,35% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân thực hiện 2.920 tỷ đồng, tăng 31,59%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 259,2 tỷ đồng, tăng 66,88% so cùng kỳ. Hai khu vực kinh tế này có tốc độ tăng cao so cùng kỳ do có số đơn vị tham gia kinh doanh tăng, trong đó có những đơn vị có qui mô khá lớn. Khu vực kinh tế nhà nước ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số (0,65%) do sắp xếp lại, thực hiện cổ phần hóa nên số doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực thương mại không còn nhiều.

Phân theo nhóm ngành kinh tế, ngành thương nghiệp thực hiện 7.308,6 tỷ đồng, tăng 19,85% so với cùng kỳ; kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch 669,5 tỷ đồng, tăng 49,66% và các ngành dịch vụ khác thực hiện 376,7 tỷ đồng, tăng 10,97% so cùng kỳ.

b) Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Tổng trị giá xuất khẩu Quí I dự kiến đạt 275.952 ngàn USD, tăng 75,86% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước thực hiện đạt 375 ngàn USD, giảm 39,32%; khu vực kinh tế tư nhân 29.027 ngàn USD, tăng 37,0%; Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 246.550 ngàn USD, tăng 82,47% so cùng kỳ. Hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch cao là: hàng điện tử 100.994 ngàn USD, hàng dệt may đạt 54.809 ngàn USD,  chè 13.978 ngàn USD, giầy dép các loại 7.700 ngàn USD...

Tổng trị giá hàng nhập khẩu Quí I dự kiến đạt 415.082 ngàn USD, tăng 8,59% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước 794 ngàn USD tăng 40,53% so cùng kỳ; khu vực kinh tế tư nhân đạt 23.228 ngàn USD, bằng 41,53% so cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 391.060 ngàn USD, tăng 20,05% so cùng kỳ. Hàng nhập khẩu trong kỳ chủ yếu là các nguyên vật liệu để gia công sản xuất như: linh kiện, phụ tùng ô tô, xe máy, vải may mặc, hàng điện tử và nguyên phụ liệu sản xuất tân dược...

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Tháng Ba, giá cả hàng tiêu dùng trên địa bàn tỉnh trở lại ổn định và có mức giảm nhẹ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Ba giảm 0,29% so với tháng trước và tăng 8,42% so vớí cùng tháng năm trước. Tính chung ba tháng đầu năm, CPI bình quân tăng 8,72% so cùng kỳ. Nguyên nhân chính tác động đến CPI tháng này giảm là do giá một số mặt hàng thiết yếu giảm như: thực phẩm giảm 0,14%; ăn uống ngoài gia đình giảm 4,77%; gas giảm 1,7%... Các nhóm còn lại giá tương đối ổn định và biến động nhẹ.

Diễn biến giá của các nhóm hàng chính trong tháng Ba như sau:

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,97% so tháng trước và tăng 3,97% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm chính do trong tháng giá một số mặt hàng thực phẩm chính yếu có mức giảm như: thịt lợn, thịt bò, thịt gà, thịt ngan vịt, và trứng đều giảm;

- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,41%. Mặt hàng chính ảnh hưởng đến mức tăng chung của cả nhóm là thuốc lá tăng 1,29%, các mặt hàng còn lại giá tương đối ổn định;

- Nhóm giao thông tăng 0,29%, do sự điều chỉnh giá xăng, dầu tăng từ 240-300đ/lít từ 20h ngày 21/02/2014 của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam .

Giá vàng tháng Ba trên địa bàn tỉnh tăng khá. Chỉ số giá vàng trong tháng tăng 3,83% so với tháng trước theo mức tăng chung cả nước. Giá vàng bình quân trên thị trường tự do là 3.415 nghìn đồng/chỉ. Cùng chiều với giá vàng, giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do cũng tăng nhẹ (0,06%) so với tháng trước. Giá bán bình quân phổ biến ở mức 21.125 đồng/USD.

d) Vận tải hành khách và hàng hoá

Tổng khối lượng vận chuyển hàng hoá trên địa bàn tỉnh Quí I dự kiến đạt 6.295 ngàn tấn, bằng 463 triệu tấn.km; so cùng kỳ giảm 3,07% về tấn và giảm 3,09% về tấn.km. Khối lượng hành khách vận chuyển đạt 7.060 ngàn người, bằng 358 triệu người.km; so cùng kỳ giảm 6,95% về người và giảm 4,51% người.km. Tổng doanh thu vận tải dự kiến đạt 749,3 tỷ đồng, tăng 12,85% so cùng kỳ; trong đó vận tải đường bộ đạt 664,5 tỷ đồng, tăng 13,52%, vận tải đường sông đạt 83,2 tỷ đồng, tăng 7,56% so cùng kỳ năm 2013.

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc

 

Các tin đã đưa ngày: