Longform: Bác sỹ điều trị HIV và những câu chuyện không có trong bệnh án

18/12/2020

- Được đào tạo để làm bác sỹ đa khoa, vì sao anh lại gắn bó với công việc điều trị cho các bệnh nhân HIV/AIDS?

- Khi tôi bước vào năm cuối Đại học Y thì đại dịch AIDS bắt đầu lan rộng trong cả nước. Ở nơi tôi học, thành phố thái Nguyên, số người nghiện ma túy và nhiễm HIV không nhỏ. Là sinh viên y khoa thực tập, chúng tôi đã có dịp tiếp cận với những đối tượng này. Tôi ra trường 1 năm thì Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Vĩnh Phúc thành lập và tôi về công tác tại đây. Đơn vị mới, cán bộ mới, nhiệm vụ mới với rất nhiều thử thách đặt ra. Tôi đã không đắn đo khi nhận nhiệm vụ trưởng nhóm điều trị cho các bệnh nhân HIV/AIDS.

- Bối cảnh chung lúc đó như thế nào và nhiệm vụ cụ thể của nhóm điều trị là gì?

Vĩnh Phúc thuộc nhóm 10 tỉnh, thành phố đầu tiên ở miền Bắc triển khai điều trị bằng thuốc ARV cho bệnh nhân HIV/AIDS. Khi đó quy trình điều trị vô cùng chặt chẽ, Bộ Y tế đã ban hành các quy chuẩn, đặc biệt là đưa ra các phác đồ điều trị bậc 1 và bậc 2.

Lợi ích của ARV đối với các bệnh nhân AIDS là giúp họ kéo dài tuổi thọ, có thể sống được thêm từ 15 đến 20 năm, nếu điều trị ARV từ khi nhiễm thì có thể sống thêm tới 50 năm. Có thuốc ARV, những cặp vợ chồng nhiễm HIV vẫn có thể sinh ra những đứa con không bị nhiễm loại vi rút này. Tuy nhiên, quá trình tư vấn và điều trị phải trải qua nhiều khâu, tiến hành từng bước hết sức thận trọng, nhất là trong năm đầu tiên khi cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu, đội ngũ chưa có kinh nghiệm; nếu áp dụng ARV nhanh sẽ gây hội chứng phục hồi miễn dịch mạnh khiến bệnh nhân có thể tử vong.

Về phía bệnh nhân, họ mang nặng tâm lý tự ti và e ngại khi đến Trung tâm đề nghị tư vấn và không phải ai cũng sẵn sàng làm xét nghiệm. Do e sợ thái độ kỳ thị và bị phân biệt đối xử, họ không dám tiết lộ tình trạng của bản thân, né tránh việc xét nghiệm; trì hoãn, thậm chí từ chối khi được đưa vào chăm sóc và điều trị; không áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm.

Hiện nay, thông thường một người có HIV/AIDS đến khám tại các cơ sở y tế trải qua các quy trình: khám bệnh, làm các xét nghiệm, xác định tiêu chuẩn nhập viện ngoại trú hoặc nội trú. Nhưng ở thời điểm cách đây 15 năm, quy trình khám, tư vấn và điều trị phức tạp hơn rất nhiều. Sau khi hồ sơ được tiếp nhận, bệnh nhân phải trải qua 2 đến 3 lần tư vấn, gồm tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm và tư vấn gia đình. Nhiệm vụ của y, bác sỹ trong nhóm là hướng dẫn bệnh nhân và gia đình tuân thủ quy trình uống thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội để điều trị ổn định các bệnh này, chuẩn bị sẵn sàng về tâm lý và thể trạng để bệnh nhân hấp thụ thuốc ARV tốt nhất. Ngoài việc hướng dẫn bệnh nhân, chúng tôi còn phải tư vấn cặn kẽ cho người nhà của họ về cách chăm sóc, phòng chống lây nhiễm bởi có nhiều bệnh nhân vừa nghiện ma túy vừa nhiễm HIV, cơ thể suy kiệt, sinh lực yếu ớt, không thể tự phục vụ. Do số lượng điều trị phụ thuộc chỉ tiêu giao, chúng tôi phải chuẩn bị hồ sơ để ban xét duyệt họp, thảo luận và thông qua rồi mới đưa bệnh nhân vào điều trị.

 

- Những khó khăn, hay cả rào cản khi đó là gì, thưa bác sỹ?

Việc điều trị cho các bệnh nhân HIV/AIDS được tiến hành khoảng 1 năm sau khi Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS được thành lập (năm 2006). Cơ sở vật chất lúc đó rất nghèo nàn. Phòng khám 10m2 được tận dụng từ hành lang tầng 1 kê 1 chiếc tủ đựng thuốc và thiết bị, phần diện tích còn lại dành cho việc khám và tư vấn. Không chỉ bệnh nhân e ngại đến khám, ngay cả bác sỹ cũng vừa khám vừa…lo bởi có đến 60% bệnh nhân HIV/AIDS bị lao và các bệnh nhiễm trùng cơ hội khác. Nhiều bệnh nhân AIDS đã chuyển sang giai đoạn cuối, toàn thân lở loét, rỉ nước do sự tấn công của các loại vi rút, nấm…Sau một ngày làm việc thấm mệt, tối đến, bưng bát cơm lên, bác sỹ vẫn còn bị ám ảnh về tình trạng bệnh của họ. Ấy vậy mà họ đâu có sẵn sàng hợp tác với nhân viên y tế, cũng bởi sự kì thị ngoài xã hội quá nặng nề lại thêm tâm lý hoang mang khi hình dung mình đang đối diện với “án tử”, chưa kể quá trình tư vấn, xét nghiệm, nhận kết quả xét nghiệm phải đi lại nhiều lần, hao tốn chi phí trong khi bản thân họ đa số nghèo hoặc thu nhập thấp.

Nặng nề nhất là những người nhận được kết quả xét nghiệm dương tính với HIV, nhất là những phụ nữ bị lây nhiễm vi rút từ chồng. Cầm trên tay tờ giấy báo kết quả, họ gục mặt xuống nức nở, tưởng chừng như đất trời sụp đổ dưới chân. Có người đọc xong tờ kết luận thẫn thờ ngồi cả tiếng đồng hồ trong phòng xét nghiệm rồi lại lững thững đi ra hành lang đến hết giờ khám bệnh vẫn chưa về. Một số bệnh nhân sau khi rời khỏi phòng khám thì bặt tin, chúng tôi phải gọi điện liên lạc, nửa tháng sau họ mới quay lại điều trị. Trong thời gian đó, tâm lý hoang mang, buồn nản của họ tạo thêm thuận lợi cho các bệnh nhiễm trùng cơ hội bùng phát. Có bệnh nhân tưởng chừng không qua khỏi bởi sự tấn công của các loại bệnh: nấm não, nấm đường tiêu hóa, nấm da…

Khó khăn chồng chất như vậy nên ngay cả một số cán bộ trong ngành cũng không dám tin việc điều trị có thể thành công. Thế nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm làm.

Được tư vấn và điều trị đúng cách, sức đề kháng tốt hơn, nhiều bệnh nhân đã dần khỏe lại. Lượng người đến xét nghiệm cũng ngày một đông hơn. Trước kia, phải 3, 4 tháng chúng tôi mới gom đủ một đợt bệnh nhân để trình Ban xét duyệt, sau đó 1 tháng trình xét duyệt 1 lần, có tháng 2 lần. 9 năm công tác tại Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, con số bệnh nhân tôi và các bệnh nhân đã điều trị lên tới hàng ngàn. Trong số họ, có những người sống được thêm 10 năm, nhiều người hiện vẫn đang khỏe mạnh, sinh con lành lặn, tìm được công việc phù hợp nuôi sống bản thân và tham gia tích cực vào các câu lạc bộ đồng đẳng, giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ.

- Việc điều trị thành công cho các bệnh nhân AIDS hẳn là có vai trò không nhỏ của công tác tuyên truyền, thưa bác sỹ?

Đúng vậy. Với bản thân người nhiễm HIV, chúng tôi động viên để họ vượt lên tự ti, mặc cảm; phân tích để họ hiểu, nếu không điều trị, cái chết là không thể tránh khỏi, nếu được điều trị sẽ vẫn có thể có con, sống cuộc sống hạnh phúc bên gia đình, người thân.

Đặc biệt, chúng tôi đã thuyết phục 2 trong số 5 bệnh nhân được điều trị đầu tiên công khai việc mình nhiễm HIV trên các phương tiện thông tin đại chúng để lan tỏa đến cộng dồng thông điệp: người nhiễm HIV cũng là một bệnh nhân như bao bệnh nhân khác, phía cộng đồng nên thông cảm và coi đó như một bệnh, người bị bệnh phải được điều trị cho đến khi khỏi. 2 bệnh nhân này đã đồng hành cùng Trung tâm suốt mấy năm liền, qua biết bao hội nghị lớn nhỏ, các cuộc tuyên truyền tại cơ sở để người dân hiểu rõ hơn về HIV/AIDS, về những người đang sống chung với nó. Chính nhờ sự can đảm của họ, người nhiễm HIV có động lực bước ra từ bóng tối, chấp nhận sự thật và tham gia các hoạt động khơi dậy sự cảm thông của những người xung quanh.

Rất vui là những năm sau này, khi hệ thống phòng chống HIV/AIDS được hoàn thiện, các hình thức truyền thông cũng được đa dạng và đổi mới góp phần nâng cao kiến thức của người dân về phòng chống HIV/AIDS, giảm dần kỳ thị trong xã hội về HIV/AIDS, đặc biệt là tạo sự tự tin, chủ động của người nhiễm HIV, giúp họ tiếp cận các dịch vụ y tế dự phòng lây nhiễm.

Sau 9 năm đồng hành cùng những người có “H”, do yêu cầu công tác, bác sỹ Đào Văn Đăng đảm nhiệm nhiều vị trí công việc khác nhau và hiện anh đang là Chi cục phó Chi cục Dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh. Có một điều thú vị là trong quá trình phỏng vấn, người viết bài đã kết nối liên lạc để anh gặp lại bệnh nhân Vũ Hữu Thái – 1 trong 5 người nhiễm HIV đầu tiên ở Vĩnh Phúc được điều trị tại Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, cũng là người đã dũng cảm công khai tình trạng nhiễm “H” của mình trên các phương tiện truyền thông năm xưa. Gần 15 năm trôi qua, anh Thái từ một bệnh nhân AIDS bị nhiễm trùng nặng, chỉ còn da bọc xương giờ vẫn sống lạc quan và khỏe mạnh, hằng ngày giúp vợ bán hàng, đưa đón con đi học, sống cuộc đời giản dị như bao người bình thường khác.

 


Các tin đã đưa ngày: