Tiếp cận tư pháp hình sự của phụ nữ bạo lực ở Việt Nam

08/08/2018

Nghiên cứu "Tiếp cận tư pháp hình sự của phụ nữ bạo lực ở Việt Nam" mới được UN Women công bố đã đưa ra góc nhìn mới, sâu sắc về cách mà phụ nữ nhận thức về công lý ở Việt Nam như thế nào và cách mà nạn nhân được đối xử ra sao.


Tuyên truyền phòng, chống bạo lực gia đình. Ảnh internet

Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận tổng hợp, sử dụng phương pháp định lượng và định tính ở hai địa điểm được lựa chọn ở Việt Nam là Hà Nội và Lạng Sơn, được tiến hành trong khoảng 3 tháng. Nghiên cứu bao gồm 3 phần chính: Khảo sát định lượng về quan niệm của người tham gia nghiên cứu nhằm tìm hiểu quan điểm của phụ nữ nói chung; phỏng vấn sâu với nạn nhân nhằm hiểu rõ ý kiến của những người sử dụng hệ thống pháp  lý và thảo luận nhóm chuyên đề với những cán bộ thực thi luật pháp, tư pháp hình sự và phản ứng ban đầu của hệ thống pháp lý khi tiếp nhận yêu cầu của nạn nhân, qua đó có thể hiểu rõ quan điểm của các cán bộ làm công tác tư pháp.

Trong nghiên cứu này, 205 phụ nữ trưởng thành đã điền vào bảng hỏi cấu trúc, gồm các câu hỏi liên quan tới kiến thức về các quyền và mức độ nhận thức của họ về năng lực đáp ứng của công tác ngăn chặn và tư pháp hiện có; quan niệm và mức độ tin tưởng vào các dịch vụ tư pháp và hành pháp hiện tại và những gợi ý của phụ nữ về nội dung hướng dẫn tư pháp nhằm tăng cường sự tiếp cận công lý của họ. Ở từng địa bàn nghiên cứu, thảo luận nhóm chuyên đề cũng được tiến hành để tìm hiểu thêm về bối cảnh thông qua trao đổi với 53 cán bộ, là những người mà nạn nhân đã từng tiếp xúc khi tìm kiếm công lý, nhằm hiểu rõ hơn về những thách thức mà phụ nữ phải đối mặt khi tiếp cận công lý, cũng như những ý tưởng đề xuất để tăng cường khả năng tiếp cận của họ trong các vụ việc bạo lực với phụ nữ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn người tham gia khảo sát nhìn nhận rất tích cực về hệ thống tư pháp hình sự ở Việt Nam, trong đó nhiều người tin rằng hệ thống tư pháp hình sự phục vụ tất cả mọi người, chứ không chỉ dành cho người giàu và nó đại diện cho mọi người Việt Nam. Ít nhất một nửa số người tham gia khảo sát đồng ý ở mức cao rằng hệ thống tư pháp hình sự công bằng, hữu ích và có thể tiếp cận. Số ít hơn thì cho rằng hệ thống là dễ tiếp cận, hoạt động tốt, hiệu quả và dễ hiểu. Sự nhìn nhận tích cực trở nên thấp hơn khi người tham gia khảo sát được hỏi những câu hỏi cụ thể như hệ thống tư pháp hình sự có công bằng và bình đẳng với những phụ nữ bị bạo lực gia đình hoặc bị bạo lực tình dục hay không. Những người tham gia khảo sát mà đã từng bị bạo lực và những người từng trình báo hoặc cố gắng trình báo vụ việc bạo lực dường như ít thiện cảm hơn đối với hệ thống tư pháp hình sự. Sự nhìn nhận tích cực của nhóm phụ nữ nói chung về cách mà hệ thống tư pháp hình sự xử lý các vụ việc liên quan đến bạo lực với phụ nữ tương phản một cách rõ nét với ý kiến của những nạn nhân từng có trải nghiệm với hệ thống pháp lý. 

Đại đa số phụ nữ được khảo sát nói rằng họ được thông tin đầy đủ về các quyền và nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ quyền được tiếp cận công lý của họ. Trong khi đó, chỉ khoảng một nửa số nạn nhân bị bạo lực được phỏng vấn nói rằng họ không biết về các quyền của mình vào thời điểm bị bạo lực; tuy nhiên, một số người sau đó đã biết về các quyền khi đến với Nhà bình yên. Điều này đối ngược với quan điểm của cán bộ cung cấp dịch vụ pháp lý khi cho rằng phần lớn nạn nhân không biết về các quyền của mình và một số người thậm chí còn cho rằng phụ nữ phải có trách nhiệm chính trong việc bảo vệ quyền của chính họ. Cả phía nạn nhân và phía cơ quan tư pháp đều cho rằng, Hội Phụ nữ và chính quyền địa phương cần tuyên truyền nhiều hơn về phòng chống bạo lực. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của những dịch vụ đáng tin cậy như Nhà bình yên và nhà tạm lánh trong việc phổ biến cho phụ nữ về các quyền của nạn nhân bị bạo lực, bên cạnh việc được hỗ trợ về xã hội và pháp lý.

Bên cạnh đó, phần lớn phụ nữ biết phải đi đến đâu để trình báo bạo lực, trái ngược với ý kiến của cán bộ tư pháp rằng phụ nữ biết rất ít về những nhiệm vụ mà công an phải làm. Nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố khác giải thích tại sao họ không trình báo với công an. Những rào cản mà  phụ nữ phải đối mặt là các rào cản xã hội và văn hóa, pháp lý và thể chế. Khi mà các rào cản xã hội và văn hóa (như sự kỳ thị, áp lực của gia đình, lo ngại rằng nếu trình báo có nghĩa là sẽ ly hôn, hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến tương lai của con cái) đòi hỏi cần có sự thay đổi về thái độ và phương pháp tiếp cận đa ngành toàn diện, thì những rào cản về pháp lý và thể chế (không bảo đảm sự riêng tư, lo ngại về vấn đề bảo vệ, thủ tục phức tạp, v.v.)  cần được hệ thống tư pháp hình sự giải quyết ngay lập tức.

Theo khảo sát, 5 rào cản lớn nhất đối với phụ nữ là: Lo ngại về sự riêng tư; nhận thức hạn chế về các quyền; lo ngại về vấn đề bảo vệ; ê chề và xấu hổ; áp lực của gia đình. Nhiều nạn nhân được phỏng vấn cũng đề cập đến việc phải đối mặt với những rào cản tương tự như lo ngại về sự riêng tư và bảo vệ. Quan điểm của cán bộ tư pháp về các rảo cản chủ yếu lại là do chính nạn nhân, những người được coi là chấp nhận số phận của mình; sợ bị người bạo hành trả thù nếu đi trình báo; cũng như mức độ nhận thức thấp của chính bản thân phụ nữ về bạo lực và mức độ hiểu biết pháp luật thấp.

Báo cáo này cũng đưa ra một số gợi ý dành cho những người làm tư pháp hình sự: Công an, kiểm sát viên, thẩm phán và cán bộ trợ giúp pháp lý. Một số sáng kiến chung được đề cập bao gồm: Làm việc với cán bộ tư pháp được đào tạo về bạo lực đối với phụ nữ; nạn nhân cần được cảm thấy thoải mái, an toàn và bảo đảm an ninh, được tôn trọng phẩm giá trong đối xử; được tin tưởng và lắng nghe; được nói chuyện với cán bộ làm công tác tư pháp là nữ; được đáp ứng nhu cầu về bảo vệ; được bảo đảm riêng tư (có không gian riêng ở cơ quan công an, có thể trình báo ở một địa điểm khác như Trung tâm một cửa xử lý bạo lực, xét xử kín hoặc cấm phổ biến thông tin); ưu tiên vụ việc của nữ nạn nhân; được cung cấp thông tin về tiến độ vụ việc và hệ thống tư pháp hình sự; được hỗ trợ pháp lý (thông qua trợ giúp pháp lý) và hỗ trợ khác (như thông qua cán bộ trợ giúp hiện có hoặc được giới thiệu đến các dịch vụ xã hội khác) và các biện pháp khác để làm giảm nguy cơ bị trở thành nạn nhân lần nữa (giảm thiểu việc phải kể lại câu chuyện, không phải đối mặt với bị cáo tại tòa,...).

Nguồn: tiengchuong.vn

 

Các tin đã đưa ngày: